THỰC TRẠNG SỬ DỤNG CATHETER TIÊM TRUYỀN Ở NGƯỜI BỆNH ĐIỀU TRỊ TẠI TRUNG TÂM HỒI SỨC TÍCH CỰC BỆNH VIỆN BỆNH NHIỆT ĐỚI TRUNG ƯƠNG NĂM 2025
Nội dung chính của bài viết
Tóm tắt
Mục tiêu: Mô tả thực trạng sử dụng và biến chứng của catheter tiêm truyền ở người bệnh điều trị tại Trung
tâm Hồi sức tích cực Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương năm 2025.
Đối tượng và phương pháp: Người bệnh có lưu catheter tĩnh mạch ngoại vi (PVC), và trung tâm (CVC). Nghiên cứu mô tả quan sát.
Kết quả: Nghiên cứu đã khảo sát 360 người bệnh (NB), trong đó giới nam chiếm 69,2%, tuổi trung bình 57,0 (± 16,84). Tổng số catheter là 1352: 1090 PVC (80,6%), 262 CVC (19,4%). Tỷ lệ NB có duy trì thuốc noradrenalin, propofol 1%, glucose 10%, gluose 20% khoảng 30%. Trong đó số PVC trung bình/NB: 4,1 (± 3,3); số CVC trung bình/NB: 1,2(± 0,5). Tỷ lệ biến chứng chung là 31,7% (n = 429), tỷ lệ riêng PVC 32,8%(n= 358), CVC 27,1% (n = 71). Tỷ lệ mắc hai biến chứng của PVC và CVC lần lượt 2,2%; 11,3%. Không có catheter nào mắc ba biến chứng. Phân loại biến chứng của PVC: Viêm tĩnh mạch 10,4% (n = 113), thoát mạch 7,6% (n = 83), tuột 8,3% (n = 91), tắc 6,1%(n = 67), tụ máu 1,1% (n = 12). Phân bố viêm tĩnh mạch (TM):
Độ 1 (n = 71; 6,5%), độ 2 (n = 38; 3,5%); độ 3 (n = 4; 0,4%). Phân bố thoát mạch: Độ 1 (n = 72; 6,5%), độ 2 (n = 12; 1,1%). Phân loại biến chứng CVC: Tắc (n = 33; 12,6%), Tuột (n = 2; 0,4%); Sưng đỏ tại chỗ (n = 44; 16,8%).
Kết luận: Tần suất sử dụng PVC, và CVC là phổ biến, các loại thuốc dùng duy trì TM liên tục như vận mạch, an thần, nuôi dưỡng. Tỷ lệ catheter có biến chứng khoảng 30%, trong đó một số biến chứng của PVC chủ yếu là viêm TM, thoát mạch và tuột; biến chứng của CVC chủ yếu là có dấu hiệu viêm tại chỗ.
Chi tiết bài viết
Từ khóa
Catheter, PVC, CVC, biến chứng
Tài liệu tham khảo
2. Liên, N.T.B., Thực trạng nhiễm khuẩn huyết liên quan đến catheter tĩnh mạch trung tâm tại Khoa Hồi sức tích cực và Chống độc Bệnh viện đa khoa Xanh pôn năm 2024. Tạp chí Y học Việt Nam, 2025. 546(1).
3. Bùi, T.L. and T.H. Nguyễn, Viêm tĩnh mạch tại vị trí lưu kim luồn tĩnh mạch ngoại biên và một số yếu tố liên quan tại Trung tâm Thần kinh, Bệnh viện Bạch Mai. Tạp chí thần kinh học Việt Nam, 2024(43):
p. 33-41.
4. Quyên, N.T., Biến chứng liên quan đến lưu kim luồn tĩnh mạch ngoại vi tại Khoa Sơ sinh Bệnh viện đa khoa Quốc tế Vimec Time City năm 2022-2023. Tạp chí Y học Việt Nam, 2023. 1(17).
5. Yasuda, H., et al., Occurrence and incidence rate of peripheral intravascular catheter-related phlebitis and complications in critically ill patients: a prospective cohort study (AMOR-VENUS study). J Intensive
Care, 2021. 9(1): p. 3
6. Nhung, L.T., Viêm tĩnh mạch tại vị trí lưu kim luồn tĩnh mạch ngoại biên và một số yếu tố liên quan tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội. Tạp chí Nghiên cứu y học, 2021. 145(9).
7. Quỳnh, V.B., Khảo sát tỷ lệ viêm tại chỗ và một số yếu tố liên quan sau đặt catheter tĩnh mạch ngoại vi tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 năm 2021. Journan of 108 - Clinical Medicine and Pharmacy, 2022.
8. Miliani, K., et al., Peripheral Venous Catheter-Related Adverse Events: Evaluation from a Multicentre Epidemiological Study in France (the CATHEVAL Project). PLoS One, 2017. 12(1): p. e0168637.
9. Buetti, N., et al., Local signs at insertion site and catheter-related bloodstream infections: an observational post hoc analysis using individual data of four RCTs. Crit Care, 2020. 24(1): p. 694.
10. An, V.T.T., Khảo sát các yếu tố liên quan đến nhiễm khuẩn trên người bệnh đặt catheter mạch máu tại Bệnh viện Thống Nhất, Tạp chí Y học Việt Nam, 2022. 520(1B)