GIÁ TRỊ TIÊN LƯỢNG CỦA NỒNG ĐỘ EBV-DNA HUYẾT THANH TRƯỚC ĐIỀU TRỊ Ở BỆNH NHÂN UNG THƯ VÒM HỌNG GIAI ĐOẠN III, IVA ĐIỀU TRỊ HÓA CHẤT CẢM ỨNG KẾT HỢP XẠ TRỊ TRIỆT CĂN

Nguyễn Trọng Hòa1,, Phan Minh Tâm1, Nguyễn Việt Hằng2, Nguyễn Tuấn Anh2
1 Bệnh viện Trung ương Quân đội 108
2 Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Mục tiêu: 1. Xác định mối liên quan giữa nồng độ EBV-DNA huyết thanh trước điều trị với kết quả điều trị. 2. Xác định ngưỡng cắt tối ưu của nồng độ EBV-DNA huyết thanh trong dự báo tiến triển bệnh lý.
Đối tượng và phương pháp: 74 bệnh nhân ung thư vòm mũi họng giai đoạn III, IVA được điều trị hóa chất cảm ứng, theo sau bởi xạ trị triệt căn tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108, từ tháng 3/2024 đến tháng 3/2026. Phân tích đường cong ROC và mô hình hồi quy Cox được sử dụng để xác định ngưỡng cắt tối ưu và đánh giá thời gian sống thêm không tiến triển bệnh (PFS).
Kết quả: Nhóm nghiên cứu chủ yếu là nam giới (83,8%), từ 45 tuổi trở lên (68,9%), trung vị nồng độ EBV-DNA trước điều trị là 4200 copies/mL. Tỷ lệ đáp ứng với hóa chất cảm ứng đạt 87,8%. Có 20,3% bệnh nhân ghi nhận bệnh tiến triển. Nồng độ EBV-DNA ở nhóm bệnh tiến triển cao hơn có ý nghĩa so với
nhóm bệnh ổn định (p = 0,002). Ngưỡng cắt tối ưu của EBV-DNA trước điều trị để dự báo tiến triển bệnh được xác định là 6295 copies/mL (AUC = 0,761; độ nhạy 86,7%; độ đặc hiệu 64,4%). Bệnh nhân có EBVDNA ≥ 6295 copies/mL có trung vị PFS ngắn hơn đáng kể và nguy cơ tiến triển bệnh cao gấp 4,326 lần so với nhóm < 6295 copies/mL (95% CI: 1,02 - 20,34; p = 0,037).
Kết luận: Nồng độ EBV-DNA huyết thanh trước điều trị là yếu tố tiên lượng bệnh tiến triển mạnh ở bệnh nhân UTVMH giai đoạn III, IVA.

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

1. ESMO Guidelines Committee and EURACAN: ESMO-EURACAN Clinical Practice Guidelines for
diagnosis, treatment and follow-up. Ann Oncol. 2021 Apr;32(4):452-465.
2. Phạm Huy Tần, Dương Thế Ngọc (2025). Mối liên quan giữa EBV-DNA và ung thư vòm mũi họng. Tạp Chí Y học Việt Nam, 553(1).
3. NCCN Guidelines: Head and Neck Cancers, Version 2.2025. Journal of the National Comprehensive
Cancer Network, 23(2), 2-11.
4. Nazeer F, Poulose JV, Kainickal CT. Induction chemotherapy in nasopharyngeal carcinoma- A systematic review of phase III clinical trials. Cancer Treat Res Commun. 2022;32:100589.
5. Hồ Hữu Thọ, Triệu Thị Nguyệt, Đỗ Trâm Anh và cộng sự (2020). Vai trò của dấu ấn DNA tự do của vi
rút Epstein-Barr trong kiểm soát bệnh ung thư vòm mũi họng. Journal of 108 - Clinical Medicine and
Pharmacy, 13(6), 127-131.
6. Lo YM, Chan LY, Lo KW, et al. Quantitative analysis of cell-free Epstein-Barr virus DNA in plasma of
patients with nasopharyngeal carcinoma. Cancer Res. 1999 Mar 15;59(6):1188-91.
7. Lin JC, Wang WY, Chen KY, et al. Quantification of plasma Epstein-Barr virus DNA in patients with
advanced nasopharyngeal carcinoma. N Engl J Med. 2004 Jun 10;350(24):2461-70.
8. Guo R, Tang LL, Mao YP, et al. Proposed modifications and incorporation of plasma Epstein-Barr virus
DNA improve the TNM staging system for Epstein-Barr virus-related nasopharyngeal carcinoma. Cancer.
2019 Jan 1;125(1):79-89.
9. Leung SF, Zee B, Ma BB, et al. Plasma Epstein-Barr viral deoxyribonucleic acid quantitation complements
tumor-node-metastasis staging prognostication in nasopharyngeal carcinoma. J Clin Oncol. 2006 Dec
1;24(34):5414-8.
10. Ngô Trần Thúy Vi, Phạm Nguyên Tường (2023). Nghiên cứu giá trị chẩn đoán và mối liên quan với các
yếu tố tiên lượng của nồng độ EBV-DNA huyết thanh trong ung thư vòm. Tạp chí y dược Huế, 13 (5): 9-16.
11, Đỗ Lan Hương, Nghiêm Đức Thuận, Nguyễn Văn Ba (2024). Đánh giá mối liên quan của nồng độ
cf DNA-EBV huyết tương trước điều trị với đáp ứng điều trị sau hóa chất dẫn đường trên bệnh nhân ung
thư biểu mô vòm mũi họng giai đoạn III-IVa. Tạp chí Y Dược học Quân sự, 49(2), 457-467.