Tạp chí Truyền nhiễm Việt Nam https://truyennhiemvietnam.vn/index.php/vjid vi-VN Mon, 25 May 2026 00:00:00 +0000 OJS 3.2.1.1 http://blogs.law.harvard.edu/tech/rss 60 ĐẶC ĐIỂM NHIỄM NẤM CANDIDA Ở BỆNH NHÂN ĐIỀU TRỊ TẠI ĐƠN VỊ HỒI SỨC BỆNH VIỆN TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y - DƯỢC HUẾ https://truyennhiemvietnam.vn/index.php/vjid/article/view/538 Đặt vấn đề: Candida spp. là nguyên nhân phổ biến gây nhiễm vi nấm ở bệnh nhân nặng đang điều trị tại các đơn vị ICU. Dịch tễ học của nhiễm nấm Candida spp. tại các đơn vị hồi sức đang có sự thay đổi lớn với tác nhân gây bệnh chính là non- albicans Candida có đặc tính kháng thuốc kháng nấm rất cao.Mục tiêu: Khảo sát đặc điểm nhiễm nấm Candida và các yếu tố liên quan đến nhiễm nấm Candida ở bệnh nhân điều trị tại đơn vị Hồi sức Bệnh viện Trường Đại học Y - Dược Huế.Đối tượng và phương pháp: Bệnh phẩm niêm mạc miệng, đàm/dịch hút khí phế quản, nước tiểu được làm xét nghiệm nấm trực tiếp và xác định đặc điểm hình thái học. Các mẫu xét nghiệm trực tiếp có nấm men, tiến hành cấy trên đĩa môi trường Sabouraud agar - chloramphenicol. Sau đó, cấy chuyển sang môi trường HiCrome Candida để định danh C. albicans và non-albicans Candida.Kết quả và kết luận:Tỷ lệ nhiễm nấm Candida spp. của các đối tượng khảo sát là 89,1%. Trong đó, tỷ lệ nhiễm nấm Candida tại một vị trí là 21,7%, từ hai vị trí trở lên là 67,4%. Tỷ lệ nhiễm nấm miệng là cao nhất (82,2%), tiếp đến là nhiễm nấm hô hấp (61,1%), nhiễm nấm đường tiểu (47,4%), và nhiễm nấm xâm lấn là 2,2%. Kết quả soi tươi hình thái của vi nấm ghi nhận nấm men, nảy búp, sợi giả chiếm đa số ở tất cả các vị trí lấy mẫu. Nuôi cấy phân lập cho kết quả non-albicans Candida chiếm tỷ lệ cao hơn C. albicans (53,4% và 46,4%). Candida score ≥ 3 điểm chiếm 76,1% đối tượng nghiên cứu. Điểm SOFA ≥ 2 điểm là yếu tố duy nhất liên quan đến nhiễm nấm Candida chung. Các yếu tố liên quan đến nhiễm nấm Candida miệng bao gồm: Điểm SOFA ≥ 2, sử dụng số nhóm kháng sinh ≥ 2 nhóm, sử dụng kháng sinh nhóm fluoroquinolon. Bệnh phổi kèm theo là yếu tố liên quan đến tăng tỷ lệ nhiễm nấm Candida đường hô hấp. Các yếu tố liên quan đến nhiễm nấm Candida đường tiểu bao gồm: đặt sonde tiểu, bệnh kèm là đái tháo đường phụ thuộc insulin, điểm SOFA ≥ 2 điểm, thời gian điều trị tại ICU ≥ 4 ngày. Lê Thị Yến Nhi, Nguyễn Thị Thuỳ Dung, Nguyễn Đức Lương, La Thị Ngọc Trâm, Nguyễn Trung Kiên, Trần Thị Giang, Tôn Nữ Phương Anh, Phan Thắng, Trương Thị Huyền, Ngô Thị Minh Châu Copyright (c) 2026 https://truyennhiemvietnam.vn/index.php/vjid/article/view/538 Mon, 25 May 2026 00:00:00 +0000 BÁO CÁO CA BỆNH LÂM SÀNG ÁP XE NÃO DO LAO Ở BỆNH NHÂN KHÔNG SUY GIẢM MIỄN DỊCH https://truyennhiemvietnam.vn/index.php/vjid/article/view/539 Lao hệ thần kinh trung ương (CNS-TB) là thể lao nặng. Trong đó, áp xe não do lao (Tuberculous Brain Abscess) là biểu hiện hiếm gặp. Đặc biệt, ở những người bệnh không nhiễm HIV. Chúng tôi báo cáo một trường hợp nam 26 tuổi, nhập viện với triệu chứng co giật và liệt nửa người phải. Hình ảnh cộng hưởng từ (MRI) sọ não cho thấy tổn thương khối choán chỗ dạng viền (ring-enhancing lesion) và được chẩn đoán Toxoplasma não. Tuy nhiên, bệnh nhân không đáp ứng với điều trị nội khoa Toxoplasma não và các xét nghiệm HIV đều âm tính. Phẫu thuật dẫn lưu mủ và xét nghiệm vi sinh (Gene Xpert, AFB) sau đó đã xác định chẩn đoán là áp xe não do lao. Qua ca bệnh này, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc xét nghiệm tìm lao sớm ở các khối tổn thương nội sọ ngay cả ở những bệnh nhân có miễn dịch bình thường. Nguyễn Thanh Bình, Đỗ Thị Tiền Copyright (c) 2026 https://truyennhiemvietnam.vn/index.php/vjid/article/view/539 Mon, 25 May 2026 00:00:00 +0000 DIỄN BIẾN ĐIỀU TRỊ BỆNH NHÂN BẠCH HẦU TRONG VỤ DỊCH TẠI HÀ GIANG (2023 - 2024) https://truyennhiemvietnam.vn/index.php/vjid/article/view/563 Bạch hầu là bệnh truyền nhiễm nguy hiểm đã được kiểm soát bằng vắc xin. Tuy nhiên, ở nhiều nơi trên thế giới trong đó có Việt Nam vẫn còn các đợt bùng phát với diễn biến phức tạp, khó kiểm soát. Mục tiêu: Phân tích diễn biến điều trị của bệnh nhân bạch hầu trong vụ dịch tại Hà Giang năm 2023 - 2024. Đối tượng và phương pháp: Chúng tôi tiến hành hồi cứu mô tả 81 bệnh nhân Bạch hầu tại bệnh viện đa khoa tỉnh Hà Giang và Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương giai đoạn 2023 - 2024. Sử dụng các phân tích xác suất thống kê. Kết quả: Có 49,4% bệnh nhân có tổn thương tạng, trong đó 25% tử vong. Tim là cơ quan tổn thương nhiều nhất (32,1%) sau đó là phổi (22,2%), rối loạn đông máu (18,5%), tổn thương gan (18,5%), thận (16%), thần kinh ngoại vi (3,7%). Tổn thương tim, phổi và rối loạn đông máu xuất hiện ở tuần thứ nhất. Tổn thương gan, thận xuất hiện nhiều từ tuần thứ 2 của bệnh, biến chứng thần kinh gặp từ tuần thứ 4 trở đi. Với mỗi tạng tổn thương tăng thêm thì tỷ lệ tử vong tăng 16,3%. Kết luận: 50% bệnh nhân bạch hầu có tổn thương tạng, tổn thương tim gặp nhiều nhất. Tổn thương nhiều tạng làm tăng tỷ lệ tử vong của bệnh nhân. Biến chứng thần kinh ngoại vi xuất hiện muộn, ít gặp nhưng để lại di chứng kéo dài. Việc chẩn đoán và điều trị sớm, đặc biệt là sử dụng SAD ngay từ lúc nhập viện giúp giảm tỷ lệ tử vong và cải thiện tiên lượng điều trị. Trương Tư Thế Bảo, Nguyễn Thị Thu Hà, Phan Văn Mạnh, Mai Đức An, Nguyễn Thị Nhung, Thân Mạnh Hùng Copyright (c) 2026 https://truyennhiemvietnam.vn/index.php/vjid/article/view/563 Mon, 25 May 2026 00:00:00 +0000 NHIỄM STREPTOCOCCUS NHÓM B VÀ SỰ ĐỀ KHÁNG KHÁNG SINH CỦA VI KHUẨN Ở PHỤ NỮ MANG THAI 35 - 37 TUẦN TẠI BỆNH VIỆN TRUNG ƯƠNG THÁI NGUYÊN 2024 - 2025 https://truyennhiemvietnam.vn/index.php/vjid/article/view/542 Mục tiêu: Xác định tỷ lệ nhiễm Streptococcus nhóm B (GBS) và đặc điểm đề kháng kháng sinh của vi khuẩn phân lập được ở phụ nữ mang thai 35 - 37 tuần tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên giai đoạn 2024 - 2025.Phương pháp:Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích được tiến hành trên 157 thai phụ 35 - 37 tuần đến khám thai tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên từ tháng 3/2024 đến tháng 9/2025. Mẫu bệnh phẩm âm đạo được lấy bằng que tăm bông vô khuẩn, nuôi cấy và định danh vi khuẩn bằng máy VITEK II. Thử nghiệm kháng sinh đồ với 8 loại kháng sinh thông dụng được thực hiện bằng hệ thống tự động VITEK II Compact. Dữ liệu được xử lý bằng phần mềm SPSS 18.0.Kết quả: Tỷ lệ nhiễm Streptococcus nhóm B là 22,3% (35/157 trường hợp). Tỷ lệ nhiễm cao nhất gặp ở nhóm phụ nữ dân tộc Kinh (42,8%) và nhóm cán bộ viên chức (62,9%). Đa số các trường hợp không có triệu chứng lâm sàng rõ ràng (57,1%). Vi khuẩn Streptococcus nhóm B nhạy cảm tốt với penicillin, ampicillin, cefazolin, erythromycin, vancomycin, trong khi kháng với clindamycin và tetracyclin.Kết luận: Streptococcus nhóm B vẫn là tác nhân thường gặp ở phụ nữ mang thai giai đoạn cuối, với tỷ lệ nhiễm đáng kể (22,3%). Các kháng sinh nhóm beta-lactam như penicillin và ampicillin vẫn cho hiệu quả cao. Tuy nhiên, cần lưu ý sự gia tăng đề kháng với clindamycin và tetracyclin. Nguyễn Thị Huyền, Lê Thị Hương Lan, Lương Thanh Hương, Nguyễn Tuấn Anh, Trần Thị Kim Hạnh Copyright (c) 2026 https://truyennhiemvietnam.vn/index.php/vjid/article/view/542 Mon, 25 May 2026 00:00:00 +0000 THỰC TRẠNG KHÁNG KHÁNG SINH CỦA MỘT SỐ CĂN NGUYÊN VI KHUẨN Ở NGƯỜI BỆNH ĐẶT NỘI KHÍ QUẢN THỞ MÁY TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA BẮC NINH SỐ 1 NĂM 2025 https://truyennhiemvietnam.vn/index.php/vjid/article/view/543 Mục tiêu: Xác định tỷ lệ kháng kháng sinh của một số chủng vi khuẩn phân lập được từ dịch tiết đường hô hấp của người bệnh đặt nội khí quản (NKQ) thở máy điều trị tại Bệnh viện đa khoa (BVĐK) Bắc Ninh số 1.Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả tiến cứu 145 chủng vi khuẩn phân lập được từ dịch tiết đường hô hấp của người bệnh đặt NKQ thở máy điều trị tại BVĐK Bắc Ninh số 1 từ tháng 5 - 8/2025.Kết quả:Phân bố căn nguyên vi khuẩn: Enterobacterales 47,6%; P. aeruginosa 26,2%; A. baumannii 16,6%; Non-Enterobacterales 4,8%; S. aureus 4,8%. A. baumannii kháng kháng sinh với tỷ lệ > 80% (Ngoại trừ kháng minocyllin 20,8%, kháng amikacin 75,0%). P. aeruginosa kháng hầu hết kháng sinh thử nghiệm với tỷ lệ > 70%, kháng ciprofloxacin (94,7%); levofloxacin (92,1%); ngoại trừ kháng ceftazidime/ avibactam (28,9%). Enterobacterales kháng cao với các kháng sinh: Ampicillin (97,1%); ampicillin/ sulbactam (82,6%); kháng nhóm quinolon > 80% (ciprofloxacin 84,1%; levofloxacin 82,6%); kháng carbapenem > 50%. 86,2% đa kháng, trong đó ESBL: 6,5%; sinh carbapenemase 47,8%; kháng carbapenem 73,2%; 100% S. aureus có MRSA, không ghi nhận trường hợp nào kháng vancomycin và linezolid.Kết luận: Vi khuẩn Gram âm chiếm ưu thế tuyệt đối trong các căn nguyên gây bệnh ở người bệnh đặt nội khí quản thở máy. Minocyclin vẫn hiệu quả trong điều trị các trường hợp nhiễm A. baumannii. Ceftazidim/ avibactam có thể là lựa chọn điều trị ưu tiên cho P. aeruginosa, tương tự như vancomycin và linezolid trong điều trị VAP do MRSA. Nguyễn Thị Huế, Đỗ Quốc Tuấn, Nguyễn Thị Hương Copyright (c) 2026 https://truyennhiemvietnam.vn/index.php/vjid/article/view/543 Mon, 25 May 2026 00:00:00 +0000 TÌNH HÌNH VIÊM PHỔI LIÊN QUAN THỞ MÁY TẠI KHOA HỒI SỨC TÍCH CỰC BỆNH VIỆN ĐA KHOA BẮC NINH SỐ 2 https://truyennhiemvietnam.vn/index.php/vjid/article/view/544 Mục tiêu:Mô tả thực trạng viêm phổi liên quan đến thở máy và một số đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và căn nguyên vi khuẩn gây viêm phổi liên quan thở máy (VAP) tại Khoa Hồi sức tích cực Bệnh viện đa khoa Bắc Ninh số 2.Đối tượng và phương pháp:Nghiên cứu mô tả tiến cứu 43 bệnh nhân được chẩn đoán xác định viêm phổi liên quan thở máy tại Khoa Hồi sức tích cực Bệnh viện đa khoa Bắc Ninh số 2.Kết quả:Trong 43 bệnh nhân được đưa vào nghiên cứu, tuổi trung bình 68,1 ± 16,5 tuổi, nam giới chiếm tỷ lệ 62,8%. Trong đó, viêm phổi liên quan thở máy muộn chiếm 53,5%. Triệu chứng lâm sàng hay gặp là tăng tiết đờm, thay đổi màu sắc đờm, ran phổi. 65,1% bệnh nhân mắc VAP có tăng số lượng bạch cầu trên 12 G/L, tổn thương trên chẩn đoán hình ảnh chủ yếu là thâm nhiễm mới chiếm 62,8%.Kết luận: Bệnh nhân VAP có các triệu chứng lâm sàng hay gặp là: Thay đổi tính chất hoặc màu sắc đờm, ran phổi mới, xét nghiệm cận lâm sàng với sự gia tăng số lượng bạch cầu, thâm nhiễm trên X-quang phổi. Căn nguyên vi khuẩn thường gặp là vi khuẩn Gram âm với tỷ lệ cao: 93,7%. Nguyễn Thị Chính, Đặng Văn Dương Copyright (c) 2026 https://truyennhiemvietnam.vn/index.php/vjid/article/view/544 Mon, 25 May 2026 00:00:00 +0000 ĐẶC ĐIỂM TỔN THƯƠNG GAN Ở BỆNH NHÂN SỐT XUẤT HUYẾT DENGUE ĐIỀU TRỊ TẠI BỆNH VIỆN TRUNG ƯƠNG THÁI NGUYÊN GIAI ĐOẠN 2023 - 2024 https://truyennhiemvietnam.vn/index.php/vjid/article/view/545 Mục tiêu:Mô tả đặc điểm tổn thương gan ở bệnh nhân sốt xuất huyết Dengue (SXH Dengue) điều trị tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên.Đối tượng và phương pháp:Nghiên cứu mô tả hồi cứu 202 bệnh nhân SXH Dengue từ 01/2023 - 12/2024.Kết quả:Tuổi trung bình 33,29 ± 15,74; nam giới chiếm 56,93%. AST và ALT tăng ở đa số bệnh nhân, chủ yếu mức nhẹ (AST 40-200 U/L: 71,7%; ALT 40 - 200 U/L: 59,1%), AST tăng trội hơn ALT. AST, ALT cao hơn rõ ở nhóm SXH Dengue có dấu hiệu cảnh báo và SXH Dengue nặng (p = 0,003 và 0,028). AST, ALT tương quan nghịch có ý nghĩa với tiểu cầu (r = -0,368 và -0,261).Kết luận: Tổn thương gan ở bệnh nhân SXH Dengue phổ biến nhưng đa số ở mức độ nhẹ. enzyme gan tăng liên quan mức độ nặng của bệnh và giảm tiểu cầu. Theo dõi AST, ALT và số lượng tiểu cầu giúp phát hiện sớm diễn tiến nặng. Nguyễn Thị Tuyết, Dương Văn Thanh Copyright (c) 2026 https://truyennhiemvietnam.vn/index.php/vjid/article/view/545 Mon, 25 May 2026 00:00:00 +0000 ENTEROBACTERIACEAE SINH β-LACTAMASE PHỔ RỘNG TÌNH TRẠNG KHÁNG KHÁNG SINH CỦA CÁC VI KHUẨN PHÂN LẬP TẠI BỆNH VIỆN HỮU NGHỊ ĐA KHOA NGHỆ AN https://truyennhiemvietnam.vn/index.php/vjid/article/view/546 Mục tiêu: Đánh giá tình trạng kháng kháng sinh của một số chủng Enterobacteriaceae sinh β-lactamase phổ rộng phân lập tại Bệnh viện Hữu nghị đa khoa Nghệ An. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang dữ liệu vi sinh của các chủng Enterobacteriaceae phân lập tại Khoa Vi sinh, Bệnh viện Hữu nghị đa khoa Nghệ An từ tháng 1 - tháng 5 năm 2025. Kết quả: Nghiên cứu phân lập được 715 chủng Enterobacteriaceae. E. coli chiếm tỷ lệ 67,13%; K. pneumoniae chiếm 23,7%. E. coli sinh ESBL 62,91%. và K. pneumoniae sinh ESBL 24,7%. Enterobacteriaceae kháng cao với nhóm cephalosporin và quinolon. Tỷ lệ nhạy cảm với carbapenem của E. coli (89,0% - 91,5%); K. pneumoniae (64,8% - 67,8%); Enterobacter (46,5% - 59,1%). Đa số các chủng Enterobacteriaceae là đa kháng. Tỷ lệ kháng mở rộng của E. coli là 22,9% và K. pneumoniae là 29,4%. Kết luận: Các chủng Enterobacteriaceae phân lập được chủ yếu là E. coli và K. pneumoniae, đa số các chủng Enterobacteriaceae là đa kháng. Nguyễn Đức Phúc, Trần Thị Hiền, Nguyễn Thị Thảo Copyright (c) 2026 https://truyennhiemvietnam.vn/index.php/vjid/article/view/546 Mon, 25 May 2026 00:00:00 +0000 ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG VÀ TÍNH KHÁNG KHÁNG SINH CỦA CÁC VI KHUẨN GÂY BỆNH Ở BỆNH NHÂN NHIỄM KHUẨN HUYẾT TẠI BỆNH VIỆN E NĂM 2023 - 2025 https://truyennhiemvietnam.vn/index.php/vjid/article/view/547 Mục tiêu: Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và tính kháng kháng sinh của căn nguyên vi khuẩn gây bệnh ở bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết tại Bệnh viện E năm 2023 - 2025. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả hồi cứu 55 bệnh nhân được chẩn đoán xác định nhiễm khuẩn huyết điều trị nội trú tại Khoa Bệnh nhiệt đới Bệnh viện E từ tháng 01/2023 đến tháng 9/2025. Kết quả: Tỷ lệ bệnh nhân nam/nữ là 50,9% và 49,1%, tuổi trung bình là 64,2 ± 18,6 tuổi. Bệnh nhân có triệu chứng nhập viện dưới 7 ngày chiếm đa số (94,5%). Tỷ lệ nhiễm khuẩn huyết có sốc là 20%. Bệnh lý nền hay gặp ở bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết là tăng huyết áp, đái tháo đường, bệnh lý tim mạch (rối loạn nhịp, stent động mạch vành, hở van...). Các biểu hiện lâm sàng thường gặp là sốt, triệu chứng hô hấp, triệu chứng tiết niệu tiểu buốt, tiểu dắt, nhiễm khuẩn tiêu hóa, nhiễm khuẩn da mô mềm. Về cận lâm sàng: Nhóm bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết Gram âm có nồng độ PCT cao hơn có ý nghĩa thống kê (p < 0,05) so với nhóm nhiễm khuẩn huyết gram dương. Vi khuẩn Gram âm là căn nguyên thường gặp như E. coli, S. aureus. K. pneumoniae. E. coli nhạy cảm với nhóm carbapenem, tỷ lệ kháng khá cao với nhóm cephalosporin thế hệ 3 và 4. S. aureus có MRSA (+) chiếm 8/10 trường hợp. Chưa có trường hợp nào kháng với vancomycin và linezolid. Đinh Thị Bích Thục, Nguyễn Thị Thanh, Đào Văn Cao, Bùi Thị Thu Hoai Copyright (c) 2026 https://truyennhiemvietnam.vn/index.php/vjid/article/view/547 Mon, 25 May 2026 00:00:00 +0000 KHẢO SÁT TÌNH HÌNH KHÁNG KHÁNG SINH CỦA ENTEROBACTERIACEAE Ở BỆNH NHÂN VIÊM PHỔI ĐIỀU TRỊ TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH NINH THUẬN https://truyennhiemvietnam.vn/index.php/vjid/article/view/548 Mục tiêu: Khảo sát tỷ lệ và tính kháng kháng sinh của các chủng vi khuẩn Enterobacteriaceae thường gặp ở bệnh nhân viêm phổi tại Bệnh viện đa khoa Ninh Thuận. Đối tượng, phương pháp: Mô tả cắt ngang, hồi cứu có phân tích. Lấy 839 mẫu bệnh phẩm nuôi cấy có các chủng vi khuẩn Enterobacteriaceae ở bệnh nhân viêm phổi phân lập được tại Bệnh viện đa khoa Ninh Thuận từ ngày 01/10/2019 đến ngày 30/9/2024. Kết quả và kết luận: Có 839 chủng vi khuẩn thuộc họ Enterobacteriaceae phân lập được: Escherichia coli (57,8%), Klebsiella spp. (28,5%), Proteus spp. (12,6%), Enterobacter spp. (1,1%). Tỷ lệ vi khuẩn Escherichia coli phân bố tập trung nhiều tại khoa Ngoại tổng hợp (30,1%). Klebsiella spp. phân bố tập trung nhiều tại Khoa Hồi sức tích cực - Chống độc (26,4%). Enterobacter spp. phân bố tập trung tại các khoa Tim mạch can thiệp (66,7%), Phụ Sản (33,3%). Proteus spp. phân bố tập trung nhiều tại khoa Ngoại tổng hợp (37,7%). Escherichia coli đề kháng với bactrim (68,5%), ampicilin (63,1%), tetracyclin (55,5%), cefotaxim (51,8%). Klebsiella spp. đề kháng với ampicilin (73,6%), bactrim (71,1%), tetracyclin (56,5%). Enterobacter spp. đề kháng với tetracyclin (33,3%). Proteus spp. đề kháng với tetracyclin (84,0%), bactrim (66,0%), ampicilin (62,3%). Khuyến nghị: Cần cập nhật, chỉnh sửa, bổ sung việc sử dụng kháng sinh ban đầu điều trị nhiễm các chủng vi khuẩn Enterobacteriaceae vào phác đồ điều trị để hỗ trợ nâng cao hiệu quả điều trị cho bệnh nhân. Nguyễn Vĩnh Nghi, Lê Huy Thạch, Lê Thị Hoa, Nguyễn Huỳnh Như Ý, Nguyễn Quang Trung, Nguyễn Thái Đăng Khoa, Lê Quốc Thắng, Phạm Tô Tường Vy Copyright (c) 2026 https://truyennhiemvietnam.vn/index.php/vjid/article/view/548 Mon, 25 May 2026 00:00:00 +0000 NHÂN MỘT TRƯỜNG HỢP MELIOIDOSIS ĐIỀU TRỊ TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA AN GIANG https://truyennhiemvietnam.vn/index.php/vjid/article/view/549 Melioidosis (còn gọi là bệnh Whitmore)là một bệnh nhiễm trùng do trực khuẩn gram âm Burkholderia pseudomallei (trước đây gọi là Pseudomonas pseudomallei) gây ra. Bệnh có biểu hiện lâm sàng đa dạng, có tỷ lệ tử vong cao vì thường được chẩn đoán muộn với tổn thương đa cơ quan. Bệnh Melioidosis xảy ra chủ yếu ở Đông Nam Á, miền Bắc Australia. Tại Việt Nam, ca bệnh đầu tiên được Pons và Advier báo cáo vào năm 1925. Trong những năm gần đây, các báo cáo cho thấy số ca nhiễm gia tăng nhiều và là một trong những căn nguyên gây nhiễm khuẩn tại cộng đồng đáng chú ý tại các tỉnh Bắc Trung Bộ, Nam Bộ với nhiều trường hợp tử vong. Tuy nhiên, chúng tôi ghi nhận rất ít các báo cáo từ các tỉnh Miền Tậy Nam bộ. Vì vậy, chúng tôi báo cáo ca lâm sàng này để lưu ý các đồng nghiệp. Đây là một trường hợp Melioidosis có tổn thương da, mô mềm, phổi, áp xe não, nhiễm khuẩn huyết và sốc nhiễm khuẩn. Dương Quốc Hiền, Nguyễn Thị Hồng Gấm Copyright (c) 2026 https://truyennhiemvietnam.vn/index.php/vjid/article/view/549 Mon, 25 May 2026 00:00:00 +0000 KHẢO SÁT VAI TRÒ CỦA TỔNG PHÂN TÍCH NƯỚC TIỂU SOI CẶN LẮNG VÀ NUÔI CẤY VI KHUẨN TRONG CHẨN ĐOÁN BỆNH LÝ NHIỄM KHUẨN TIẾT NIỆU TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH TP. HỒ CHÍ MINH NĂM 2024 https://truyennhiemvietnam.vn/index.php/vjid/article/view/550 Đặt vấn đề: Nhiễm khuẩn tiết niệu (NKTN) là một trong những bệnh nhiễm khuẩn phổ biến, gây ra gánh nặng đáng kể về chi phí y tế và chăm sóc sức khỏe. Tại Việt Nam, NKTN là bệnh lý thường gặp ở mọi lứa tuổi cả trong cộng đồng và trong bệnh viện, đặc biệt ở các đơn vị hồi sức tích cực và sau phẫu thuật. Tỷ lệ mắc NKTN ở phụ nữ lên tới 50 - 60% ít nhất một lần trong đời, và khoảng 50% trong số đó có nguy cơ tái phát cao. Các phương pháp chẩn đoán tiêu chuẩn như nuôi cấy vi khuẩn, định danh và kháng sinh đồ thường mất 48-72 giờ để có kết quả. Hiện nay trong bối cảnh lâm sàng cần đánh giá nhanh để sử dụng kháng sinh theo kinh nghiệm trước khi có kết quả nuôi cấy và kháng sinh đồ, các xét nghiệm Tổng phân tích nước tiểu và Soi cặn lắng với thời gian thực hiện và trả kết quả trong vòng 90 phút đã trở thành công cụ kết hợp hỗ trợ có thể giúp bác sĩ lâm sàng sàng lọc và định hướng sớm tình trạng NKTN. Mục tiêu: Khảo sát vai trò kết hợp của xét nghiệm tổng phân tích nước tiểu, soi cặn lắng nước tiểu trong chẩn đoán sớm các bệnh lý nhiễm khuẩn tiết niệu. Phương pháp: Nghiên cứu hồi cứu, cắt ngang mô tả. Phân tích dữ liệu của bệnh nhân đến khám bệnh tại Bệnh viện Tâm Anh TP. Hồ Chí Minh trong năm 2024 với các mẫu nước tiểu được xét nghiệm tổng phân tích nước tiểu, soi cặn lắng và nuôi cấy với chẩn đoán nghi ngờ nhiễm khuẩn tiết niệu. Kết quả: Tổng cộng 402 bệnh nhân đã được thực hiện đầy đủ 03 xét nghiệm: Tổng phân tích nước tiểu, soi cặn lắng và nuôi cấy nước tiểu. Tỷ lệ nuôi cấy nước tiểu dương tính là 39,6%, trong đó vi khuẩn E. coli chiếm 85,5% trên tổng số tác nhân phân lập được. Đối với xét nghiệm tổng phân tích nước tiểu, chỉ số bạch cầu cho độ nhạy 94,3%, độ đặc hiệu 42,8% và NPV 92,0%; chỉ số nitrit có độ nhạy 51,6%, độ đặc hiệu 93,0%, PPV 82,8%. Khi kết hợp 02 chỉ số bạch cầu và nitrit độ đặc hiệu là 93,4% và PPV là 83,7%. Đối với xét nghiệm soi cặn lắng nước tiểu: Số lượng vi khuẩn với ngưỡng 200 vi khuẩn/µl có độ nhạy là 82,4%, độ đặc hiệu 70,8%, NPV đạt 86,0% và AUC = 0,84; số lượng bạch cầu trong cặn lắng với ngưỡng 25 bạch cầu/µl có độ nhạy 91,2% và độ đặc hiệu 46,9% và AUC = 0,763. Kết luận và khuyến nghị: Xét nghiệm tổng phân tích nước tiểu và xét nghiệm soi cặn lắng nước tiểu là công cụ có thể được sử dụng để hỗ trợ tầm soát chẩn đoán nhiễm khuẩn tiết niệu. Chỉ số bạch cầu trong tổng phân tích nước tiểu cho độ nhạy và giá trị tiên đoán âm cao. Việc kết hợp chỉ số bạch cầu và nitrit giúp cải thiện độ đặc hiệu và giá trị tiên đoán dương. Số lượng vi khuẩn trong soi cặn lắng, với ngưỡng 200 vi khuẩn/µl, có độ nhạy và độ đặc hiệu tương đối cao, phù hợp để hỗ trợ chẩn đoán. Trong thực hành lâm sàng tại các cơ sở y tế cần thực hiện tiếp tục thêm các nghiên cứu để xác định ngưỡng cut-off vi khuẩn niệu trong sàng lọc để chẩn đoán nhiễm khuẩn tiết niệu tại cơ sở. Trần Thị Thanh Nga, Nguyễn Thị Thúy Lợi, Ngô Minh Quân, Nguyễn Lương Nhã Phương, Nguyễn Thanh Tài, Nguyễn Văn Tân Minh Copyright (c) 2026 https://truyennhiemvietnam.vn/index.php/vjid/article/view/550 Mon, 25 May 2026 00:00:00 +0000 TỶ SUẤT MẮC, PHỔ KHÁNG THUỐC VI NẤM, VI KHUẨN GRAM DƯƠNG VÀ ĐẶC ĐIỂM ĐỒNG NHIỄM KHUẨN BỆNH VIỆN TRONG NHIỄM KHUẨN TIẾT NIỆU LIÊN QUAN ĐẾN ỐNG THÔNG TIỂU TẠI BỆNH VIỆN BỆNH NHIỆT ĐỚI TRUNG ƯƠNG (2022 - 2024) https://truyennhiemvietnam.vn/index.php/vjid/article/view/553 Mục tiêu: Xác định tỷ suất mắc CAUTI, mô tả phổ kháng thuốc của vi nấm Candida spp. và vi khuẩn Gram dương (Enterococcus spp.), đồng thời phân tích đặc điểm đồng nhiễm khuẩn bệnh viện trong nhiễm trùng tiết niệu liên quan đến ống thông tiểu (CAUTI) tại Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương giai đoạn 2022 - 2024. Phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang kết hợp hồi cứu (01/01/2022 - 31/5/2023) và tiến cứu (01/6/2023 - 01/8/2024) trên 104 người bệnh ≥ 16 tuổi được chẩn đoán CAUTI tại Khoa Hồi sức tích cực (ICU) và Cấp cứu, áp dụng tiêu chuẩn Quyết định số 3916/QĐ-BYT năm 2017. Kết quả: Tỷ suất CAUTI tại ICU giảm từ 7,24 ca/1000 ngày thông tiểu (2023) xuống 5,60 ca/1000 ngày thông tiểu (2024); tỷ lệ sử dụng thông tiểu DUR ổn định (0,53 - 0,51). Candida tropicalis kháng fluconazol 29,0%; C. albicans nhạy fluconazol 100% nhưng kháng amphotericin B 5,0%. Enterococcus spp. nhạy tuyệt đối với linezolid và tigecyclin nhưng kháng vancomycin 28,6% (VRE). Đồng nhiễm viêm phổi thở máy (VAP) chiếm 68,3%, CLABSI 20,2%; có 5,8% trùng căn nguyên CAUTI với bệnh phẩm máu và 11,5% trùng với bệnh phẩm đường hô hấp. Thay đổi kháng sinh, đặt lại sonde, rửa bàng quang và đồng nhiễm nhiễm khuẩn bệnh viện không có liên quan có ý nghĩa thống kê với kết quả điều trị (tất cả p > 0,05). Kết luận: Tỷ suất CAUTI có xu hướng cải thiện qua các năm song DUR vẫn cao, đòi hỏi tăng cường kiểm soát chỉ định đặt thông tiểu. Tình trạng kháng fluconazol của C. tropicalis và VRE của Enterococcus là những cảnh báo vi sinh quan trọng tại đơn vị ICU bệnh viện tuyến cuối Đinh Thị Thu Hương, Phạm Ngọc Thạch, Trần Văn Giang, Nguyễn Quốc Phương Copyright (c) 2026 https://truyennhiemvietnam.vn/index.php/vjid/article/view/553 Mon, 25 May 2026 00:00:00 +0000 SỰ THAY ĐỔI CHỈ SỐ HUYẾT HỌC, HÓA SINH VÀ VI SINH ĐƯỜNG RUỘT Ở NGƯỜI BỆNH NHIỄM KHUẨN TIÊU HÓA ĐƯỢC BỔ SUNG CÁC CHỦNG LỢI KHUẨN BACILLUS SPP. TẠI BỆNH VIỆN QUÂN Y 7 (4 - 6/2023) https://truyennhiemvietnam.vn/index.php/vjid/article/view/554 Mục tiêu: Xác định sự thay đổi các chỉ số huyết học, hóa sinh và vi sinh đường ruột ở người bệnh nhiễm khuẩn tiêu hóa được bổ sung các chủng lợi khuẩn Bacillus spp. tại Bệnh viện Quân y 7 từ tháng 4/2023 đến tháng 6/2023. Đối tượng và phương pháp: Thử nghiệm lâm sàng có đối chứng được tiến hành trên các tình nguyện viên được chẩn đoán nhiễm khuẩn đường tiêu hóa kèm tiêu chảy cấp độ II, điều trị tại Bệnh viện Quân y 7. Kết quả: Sau 10 ngày sử dụng các chủng lợi khuẩn Bacillus spp. (D1-D10), nhóm can thiệp cho thấy xu hướng cải thiện hệ vi sinh đường ruột. Các vi khuẩn có lợi như Bacillus spp., Lactobacillus spp. và Bifidobacterium spp tăng rõ rệt. Lactobacillus spp. tăng 3,5%; Bifidobacterium spp tăng 0,22%. Akkermansia spp giảm nhẹ. Ngược lại, các vi khuẩn gây bệnh hoặc cơ hội gây bệnh giảm đáng kể: Escherichia shigella giảm 6,02%; Klebsiella spp giảm 4,6% ; Enterobacter spp giảm 0,26 %. Trong khi đó, nhóm chứng có xu hướng tăng nhẹ một số vi khuẩn gây hại. Về chỉ số hóa sinh (AST/ALT, creatinin, natri, kali, clo, kẽm) và huyết học (số lượng hồng cầu, bạch cầu), không ghi nhận khác biệt rõ rệt giữa hai nhóm. Tuy nhiên, nhóm dùng các chủng lợi khuẩn Bacillus spp. duy trì ổn định nồng độ creatinin máu, kiểm soát men gan và giảm tỷ lệ ALT/AST. Kết luận: Các chủng lợi khuẩn Bacillus spp. có tác động tích cực đến hệ vi sinh đường ruột ở bệnh nhân nhiễm khuẩn tiêu hóa, đồng thời không gây biến động đáng kể về các chỉ số hóa sinh (AST/ALT, creatinin, natri, kali, clo, kẽm) và huyết học (số lượng hồng cầu, bạch cầu). Nguyễn Thị Thanh Nhiệm Copyright (c) 2026 https://truyennhiemvietnam.vn/index.php/vjid/article/view/554 Mon, 25 May 2026 00:00:00 +0000 KHẢO SÁT THANG ĐIỂM T-SCORE, CHILD-PUGH, iMELD TRÊN ĐỐI TƯỢNG XUẤT HUYẾT TIÊU HÓA DO GIÃN VỠ TĨNH MẠCH THỰC QUẢN Ở BỆNH NHÂN XƠ GAN TẠI BỆNH VIỆN BỆNH NHIỆT ĐỚI TRUNG ƯƠNG https://truyennhiemvietnam.vn/index.php/vjid/article/view/556 Mục tiêu: Khảo sát giá trị của các thang điểm T-score, Child-Pugh và iMELD trong tiên lượng nhu cầu truyền máu và tử vong ở bệnh nhân xơ gan có xuất huyết tiêu hóa do giãn vỡ tĩnh mạch thực quản, dạ dày. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 59 bệnh nhân xơ gan có xuất huyết tiêu hóa do giãn vỡ tĩnh mạch thực quản, dạ dày điều trị tại Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương từ tháng 01/2025 đến tháng 11/2025. Các thang điểm T-score, Child-Pugh và iMELD được tính tại thời điểm nhập viện. Giá trị tiên lượng được đánh giá thông qua đường cong ROC, độ nhạy và độ đặc hiệu. Kết quả: Tuổi trung bình của bệnh nhân là từ 40 - 60 tuổi, nam giới chiếm 89,8%. Nguyên nhân xơ gan chủ yếu là rượu (40,7%) và viêm gan B (25,4%). Tỷ lệ tử vong là 15,3%. Thang điểm Child-Pugh và iMELD có giá trị tiên lượng tử vong với AUC lần lượt là 0,77 và 0,76. Thang điểm T-score có giá trị tốt trong tiên lượng nhu cầu truyền máu (AUC = 0,82). Có mối tương quan thuận giữa T-score và nồng độ hemoglobin. Kết luận: Thang điểm Child-Pugh và iMELD có giá trị trong tiên lượng tử vong ở bệnh nhân xơ gan có xuất huyết tiêu hóa do giãn vỡ tĩnh mạch thực quản, dạ dày. Thang điểm T-score hữu ích trong tiên lượng nhu cầu truyền máu, giúp phân tầng nguy cơ sớm trong thực hành lâm sàng. Nguyễn Tất Thành, Trần Thanh Hà, Nguyễn Quốc Việt, Phạm Thị Bích Thuận Copyright (c) 2026 https://truyennhiemvietnam.vn/index.php/vjid/article/view/556 Mon, 25 May 2026 00:00:00 +0000 GIÁ TRỊ CỦA MỘT SỐ CÔNG THỨC HỒNG CẦU TRONG CHẨN ĐOÁN PHÂN BIỆT β-THALASSEMIA THỂ NHẸ VÀ THIẾU MÁU THIẾU SẮT https://truyennhiemvietnam.vn/index.php/vjid/article/view/557 Mục tiêu: 1- Đánh giá giá trị của một số công thức chỉ số hồng cầu trong chẩn đoán phân biệt β-thalassemia thể nhẹ và thiếu máu thiếu sắt ở bệnh nhân người lớn. 2- Xác định điểm cắt tối ưu của các công thức này trong quần thể nghiên cứu. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang, hồi cứu ở các bệnh nhân từ 18 tuổi trở lên được chẩn đoán β-thalassemia thể nhẹ hoặc thiếu máu thiếu sắt. Sáu công thức chỉ số hồng cầu được đánh giá gồm: Shine and Lal, Mentzer, RDW index, Srivastava, England and Fraser, và Green and King. Kết quả: Từ tháng 01/2023 đến tháng 8/2025, có 118 bệnh nhân đủ tiêu chuẩn được đưa vào nghiên cứu bao gồm 64 bệnh nhân β-thalassemia thể nhẹ, 54 bệnh nhân thiếu máu thiếu sắt. Nhóm β-thalassemia thể nhẹ có số lượng hồng cầu trung bình cao hơn nhóm thiếu máu thiếu sắt (RBC: 5,82 ± 0,85 so với 4,10 ± 0,76 T/L). Thể tích trung bình hồng cầu ở nhóm β-thalassemia thể nhẹ thấp hơn (MCV: 63,30 ± 4,98 so với 67,91 ± 7,04 fL), đồng thời độ phân bố kích thước hồng cầu cũng đồng đều hơn, với RDW-CV trung vị thấp hơn (16,05% so với 19,3%). Green and King và RDW index là hai công thức có giá trị chẩn đoán cao nhất, với diện tích dưới đường cong ROC (AUC) lần lượt là 98,6% và 98,2%; tiếp theo là England and Fraser (96,7%) và Mentzer (92,9%). Với điểm cắt cổ điển, RDW index có độ nhạy 100,0% và độ đặc hiệu 89,1% trong chẩn đoán β-thalassemia thể nhẹ; trong khi đó Green and King có độ đặc hiệu 100,0% với độ nhạy 81,2%. Khi xác định theo điểm cắt tối ưu, RDW index đạt chỉ số Youden cao nhất (92,2%), tiếp theo là Green and King (91,3%). Ở nhóm thiếu máu nhẹ (HGB > 90 g/L), Green and King và RDW index vẫn duy trì hiệu năng chẩn đoán rất cao, với AUC lần lượt là 97,6% và 97,3%; điểm cắt tối ưu tương ứng là 69 và 223. Kết luận: Green and King, RDW index, England and Fraser và Mentzer là những công thức có giá trị cao trong sàng lọc phân biệt β-thalassemia thể nhẹ với thiếu máu thiếu sắt ở bệnh nhân người lớn. Điểm cắt tối ưu trong quần thể nghiên cứu có xu hướng khác với ngưỡng cổ điển, cho thấy cần hiệu chỉnh theo đặc điểm dân số nghiên cứu tại địa phương. Nguyễn Việt Dũng, Phan Thị Thanh Hoa, Bùi Thị Nguyệt Ánh Copyright (c) 2026 https://truyennhiemvietnam.vn/index.php/vjid/article/view/557 Mon, 25 May 2026 00:00:00 +0000 GIÁ TRỊ TIÊN LƯỢNG CỦA NỒNG ĐỘ EBV-DNA HUYẾT THANH TRƯỚC ĐIỀU TRỊ Ở BỆNH NHÂN UNG THƯ VÒM HỌNG GIAI ĐOẠN III, IVA ĐIỀU TRỊ HÓA CHẤT CẢM ỨNG KẾT HỢP XẠ TRỊ TRIỆT CĂN https://truyennhiemvietnam.vn/index.php/vjid/article/view/558 Mục tiêu: 1. Xác định mối liên quan giữa nồng độ EBV-DNA huyết thanh trước điều trị với kết quả điều trị. 2. Xác định ngưỡng cắt tối ưu của nồng độ EBV-DNA huyết thanh trong dự báo tiến triển bệnh lý. Đối tượng và phương pháp: 74 bệnh nhân ung thư vòm mũi họng giai đoạn III, IVA được điều trị hóa chất cảm ứng, theo sau bởi xạ trị triệt căn tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108, từ tháng 3/2024 đến tháng 3/2026. Phân tích đường cong ROC và mô hình hồi quy Cox được sử dụng để xác định ngưỡng cắt tối ưu và đánh giá thời gian sống thêm không tiến triển bệnh (PFS). Kết quả: Nhóm nghiên cứu chủ yếu là nam giới (83,8%), từ 45 tuổi trở lên (68,9%), trung vị nồng độ EBV-DNA trước điều trị là 4200 copies/mL. Tỷ lệ đáp ứng với hóa chất cảm ứng đạt 87,8%. Có 20,3% bệnh nhân ghi nhận bệnh tiến triển. Nồng độ EBV-DNA ở nhóm bệnh tiến triển cao hơn có ý nghĩa so với nhóm bệnh ổn định (p = 0,002). Ngưỡng cắt tối ưu của EBV-DNA trước điều trị để dự báo tiến triển bệnh được xác định là 6295 copies/mL (AUC = 0,761; độ nhạy 86,7%; độ đặc hiệu 64,4%). Bệnh nhân có EBVDNA ≥ 6295 copies/mL có trung vị PFS ngắn hơn đáng kể và nguy cơ tiến triển bệnh cao gấp 4,326 lần so với nhóm < 6295 copies/mL (95% CI: 1,02 - 20,34; p = 0,037). Kết luận: Nồng độ EBV-DNA huyết thanh trước điều trị là yếu tố tiên lượng bệnh tiến triển mạnh ở bệnh nhân UTVMH giai đoạn III, IVA. Nguyễn Trọng Hòa, Phan Minh Tâm, Nguyễn Việt Hằng, Nguyễn Tuấn Anh Copyright (c) 2026 https://truyennhiemvietnam.vn/index.php/vjid/article/view/558 Mon, 25 May 2026 00:00:00 +0000 SỰ THAY ĐỔI NỒNG ĐỘ URE, CREATININ, MỨC LỌC CẦU THẬN VÀ NỒNG ĐỘ TACROLIMUS Ở NGƯỜI BỆNH SAU GHÉP THẬN TẠI BỆNH VIỆN TRUNG ƯƠNG QUÂN ĐỘI 108 GIAI ĐOẠN NĂM 2022 - 2024 https://truyennhiemvietnam.vn/index.php/vjid/article/view/559 Mục tiêu: Mô tả sự thay đổi nồng độ ure, creatinin, mức lọc cầu thận ước tính (eGFR) và nồng độ tacrolimus ở người bệnh sau ghép thận tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 giai đoạn năm 2022 - 2024. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả, theo dõi dọc, hồi cứu 226 hồ sơ bệnh án và dữ liệu điện tử của người bệnh ghép thận từ 01/01/2022 đến 31/12/2024. Các chỉ số xét nghiệm chức năng thận (ure, creatinin huyết tương), mức lọc cầu thận ước tính eGFR (estimated Glomerular Filtration Rate) và nồng độ tacrolimus trong máu toàn phần được thu thập tại các thời điểm ngay sau ghép và theo dõi trong 12 tháng. Số liệu được phân tích bằng phần mềm STATA 14.2 và Excel 2016. Kết quả và kết luận: Ngay sau ghép thận, nồng độ ure và creatinin giảm mạnh, trong khi eGFR tăng đáng kể, phản ánh chức năng thận được phục hồi sau ghép thận. Nồng độ tacrolimus trong máu trung bình giảm dần từ 9,86 ± 4,57 ng/mL sau ghép xuống 6,86 ± 1,95 ng/mL tại tháng thứ 12, nằm trong ngưỡng điều trị mục tiêu. Hệ số biến thiên nồng độ tacrolimus cao nhất trong giai đoạn sớm (0 - 1 tháng) là 19,40%, thấp nhất trong giai đoạn 2 - 3 tháng là 10,3% (p < 0,001). Kết quả cho thấy các chỉ số chức năng thận và nồng độ tacrolimus được kiểm soát hiệu quả, phù hợp với phác đồ điều trị và chăm sóc người bệnh sau ghép thận. Nguyễn Thị Ngọc Hân, Bùi Thị Túy Quyên, Nguyễn Thị Tuấn, Dương Hồng Quân Copyright (c) 2026 https://truyennhiemvietnam.vn/index.php/vjid/article/view/559 Mon, 25 May 2026 00:00:00 +0000 TÌNH TRẠNG DINH DƯỠNG CỦA TRẺ 36 - 59 THÁNG TUỔI TẠI MỘT TRƯỜNG MẦM NON Ở HÀ NỘI https://truyennhiemvietnam.vn/index.php/vjid/article/view/560 Mục tiêu: Mô tả tình trạng dinh dưỡng của trẻ em 36 - 59 tháng tuổi tại Trường mầm non Lạc Trung - Thành phố Hà Nội từ tháng 10/2023 đến tháng 4/2024. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang được tiến hành ở 205 trẻ từ 36 đến 59 tháng tuổi tại Trường mầm non Lạc Trung - Thành phố Hà Nội từ tháng 10 năm 2023 đến tháng 4 năm 2024. Tình trạng dinh dưỡng được đánh giá bằng phương pháp nhân trắc học đo cân nặng, chiều cao, đánh giá tình trạng dinh dưỡng (TTDD) bằng điểm Zscore theo phân loại WHO 2006. Kết quả: Cân nặng trung bình của trẻ nam cao hơn trẻ nữ (p < 0,05). CN/T trung bình là -0,17 ± 1,22; CC/T trung bình là -0,19 ± 1,17 và CN/CC trung bình là 0,41 ± 1,53. CC/T khác nhau theo nhóm tuổi (p < 0,05). Tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng thể nhẹ cân là 11,4%; SDD thể thấp còi là 13,8% và SDD thể gầy còm là 2,8%. Tỷ lệ thừa cân/béo phì chiếm 14,1%. Kết luận: Tình trạng dinh dưỡng ở trẻ 36 - 59 tháng tuổi tại địa bàn nghiên cứu cho thấy sự tồn tại đồng thời của cả suy dinh dưỡng và thừa cân, phản ánh gánh nặng kép về dinh dưỡng. Cần thiết triển khai các biện pháp can thiệp sớm, phù hợp theo nhóm tuổi và giới nhằm nâng cao sức khỏe và phát triển toàn diện cho trẻ. Bùi Thị Cẩm Trà, Lang Thị Trúc Quỳnh, Nguyễn Trọng Hưng, Nguyễn Thị Thu Hà, Nguyễn Hải Dương, Hoàng Thị Thơm Copyright (c) 2026 https://truyennhiemvietnam.vn/index.php/vjid/article/view/560 Mon, 25 May 2026 00:00:00 +0000 TÌNH TRẠNG DINH DƯỠNG VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở NGƯỜI BỆNH MẮC GAN NHIỄM MỠ LIÊN QUAN RỐI LOẠN CHUYỂN HÓA TẠI KHOA KHÁM BỆNH, BỆNH VIỆN BỆNH NHIỆT ĐỚI TRUNG ƯƠNG (2024 - 2025) https://truyennhiemvietnam.vn/index.php/vjid/article/view/561 Mục tiêu: Đánh giá tình trạng dinh dưỡng của người bệnh mắc gan nhiễm mỡ liên quan đến rối loạn chuyển hóa và mối liên hệ giữa tình trạng gan nhiễm mỡ và chỉ số CAP (Controlled Attenuation Parameter) trên fibroscan, enzyme gan, thói quen dinh dưỡng của người bệnh mắc gan nhiễm mỡ MAFLD tại Khoa Khám bệnh, Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương năm 2024 - 2025. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang 48 người bệnh mắc gan nhiễm mỡ liên quan đến rối loạn chuyển hóa điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương năm 2024 - 2025. Kết quả và kết luận: Tuổi trung bình của người bệnh là 46,5 ± 14,8 tuổi, chỉ số BMI trung bình là 26,2 ± 3,6 kg/m2 . Phân loại theo BMI có 58,3% thừa cân và 10,4% béo phì, mỡ nội tạng trung bình là 11,2 ± 4,3 điểm. Một số yếu tố liên quan với tình trạng thừa cân, béo phì là mỡ nội tạng cao. Kết quả nghiên cứu nhấn mạnh vai trò của đánh giá dinh dưỡng. Đặc biệt là mỡ nội tạng và chất lượng của khẩu phần trong quản lý người bệnh MAFLD. Hoàng Thị Thơm, Ngô Thanh Hà, Nguyễn Nguyên Huyền, Lê Hồng Dân, Hoàng Huy Tú, Nguyễn Quang Huy, Phạm Thị Hường, Lê Thị Vân Anh, Phạm Thị Minh Phương, Nguyễn Hải Dương Copyright (c) 2026 https://truyennhiemvietnam.vn/index.php/vjid/article/view/561 Mon, 25 May 2026 00:00:00 +0000 ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CAN THIỆP TRUYỀN THÔNG NÂNG CAO TUÂN THỦ ĐIỀU TRỊ THUỐC KHÁNG VI RÚT Ở BỆNH NHÂN VIÊM GAN B MẠN TÍNH TẠI BỆNH VIỆN BỆNH NHIỆT ĐỚI TỈNH HƯNG YÊN https://truyennhiemvietnam.vn/index.php/vjid/article/view/562 Đặt vấn đề: Tuân thủ điều trị thuốc kháng vi rút (KVR) là yếu tố then chốt quyết định hiệu quả điều trị viêm gan vi rút B (VGB) mạn tính. Can thiệp truyền thông giáo dục sức khỏe là giải pháp quan trọng nhằm nâng cao tỷ lệ tuân thủ điều trị. Mục tiêu: Đánh giá hiệu quả can thiệp truyền thông, nâng cao tuân thủ điều trị thuốc KVR và xác định các yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị sau can thiệp ở bệnh nhân VGB mạn tính tại Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới tỉnh Hưng Yên. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu can thiệp trước - sau 260 bệnh nhân VGB mạn tính đang điều trị thuốc KVR. Công cụ đánh giá tuân thủ điều trị sử dụng bộ câu hỏi CEAT-HBV (20 câu, thang điểm 17 - 89; điểm ≥ 80: Tuân thủ). Can thiệp bao gồm tư vấn trực tiếp và cung cấp tài liệu giáo dục về tuân thủ điều trị. Đánh giá lại sau 3 tháng can thiệp. Kết quả và kết luận: Trong số 260 bệnh nhân tham gia can thiệp (60,4% nam, tuổi trung bình 55,1 ± 12,0), tỷ lệ tuân thủ điều trị tăng từ 49,2% trước can thiệp lên 53,1% sau can thiệp (p = 0,181). Điểm hiểu biết về thuốc KVR cải thiện có ý nghĩa thống kê (p = 0,005). Cảm nhận cải thiện sức khỏe và ý chí tiếp tục điều trị cũng tăng lên sau can thiệp (p < 0,001). Trình độ học vấn từ THPT trở lên là yếu tố liên quan có ý nghĩa thống kê với tuân thủ điều trị sau can thiệp (OR = 1,76; 95%CI: 1,06 - 2,91; p < 0,05). Can thiệp truyền thông có tác động tích cực đến nhận thức và thái độ điều trị. Tuy vậy, chưa cải thiện có ý nghĩa thống kê tỷ lệ tuân thủ điều trị tổng thể. Cần phối hợp đa dạng biện pháp can thiệp hành vi. Đặc biệt, chú trọng nhóm bệnh nhân có trình độ học vấn thấp. Nguyễn Thị Việt Hồng, Lê Quang Hưng, Trần Xuân Khánh, Ngô Minh Cường, Vũ Văn Hòa, Ngô Ngọc Khoa, Trần Văn Giang, Nguyễn Trung Cấp Copyright (c) 2026 https://truyennhiemvietnam.vn/index.php/vjid/article/view/562 Mon, 25 May 2026 00:00:00 +0000