Tạp chí Truyền nhiễm Việt Nam https://truyennhiemvietnam.vn/index.php/vjid vi-VN Mon, 13 Apr 2026 01:15:03 +0000 OJS 3.2.1.1 http://blogs.law.harvard.edu/tech/rss 60 SỰ KHÁC NHAU VỀ HÀM LƯỢNG HBcrAg VÀ HBsAg SIÊU NHẠY Ở BỆNH NHÂN VIÊM GAN B MẠN TÍNH ĐIỀU TRỊ THUỐC KHÁNG VI RÚT: DỪNG THUỐC, KHÔNG DỪNG THUỐC, TÁI PHÁT VI RÚT https://truyennhiemvietnam.vn/index.php/vjid/article/view/521 Mục tiêu: Mô tả sự khác nhau về hàm lượng HBcrAg và HBsAg siêu nhạy ở 298 bệnh nhân thuộc các nhóm khác nhau được chẩn đoán viêm gan B mạn tính, đang theo dõi và điều trị thuốc kháng vi rút ít nhất 2 năm tại Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương.Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang có theo dõi dọc được thực hiện từ tháng 9/2022 đến tháng 12/2025 tại Bệnh viện Nhiệt đới Trung ương.Kết quả: Trong 298 bệnh nhân, nhóm tuổi 30 - 39 chiếm tỷ lệ cao nhất (39,9%), tiếp theo là 40 - 49 tuổi (28,9%); tuổi trung bình 40,3 ± 10,1 (19 - 76 tuổi). Nồng độ HBcrAg giữa nhóm ngừng và không ngừng thuốc nucleos(t)ide analogues (NA) không khác biệt có ý nghĩa thống kê tại tất cả các thời điểm từ T0 đến T24 (p > 0,05). Tương tự, qHBsAg ở nhóm ngừng NA thấp hơn nhóm không ngừng tại mọi thời điểm nhưng không đạt ý nghĩa thống kê; trung vị qHBsAg của toàn bộ quần thể giảm dần từ 836,7 IU/mL (T0) xuống 576,2 IU/mL (T24). Sau ngừng NA, qHBsAg dao động theo thời gian (NT3: 243,76; NT6: 435,56; NT9: 41,97; NT12: 58,94 IU/mL), trong khi HBcrAg có xu hướng giảm dần (NT1: 4,90; NT3: 4,30; NT6: 4,00; NT9: 3,80; NT12: 3,75 log U/mL). Tại EOT, HBcrAg và hs-HBsAg cao hơn ở nhóm tái phát so với không tái phát (4,31 so với 3,95 log U/mL; 1169,57 so với 825,68 IU/mL), nhưng chưa có ý nghĩa thống kê (p > 0,05).Kết luận: Nghiên cứu cho thấy HBcrAg và HBsAg siêu nhạy là các dấu ấn vi rút học có giá trị trong đánh giá hoạt tính HBV và hỗ trợ phân tầng nguy cơ ở bệnh nhân viêm gan B mạn tính trong bối cảnh điều trị và ngừng điều trị nucleos(t)ide analogues. Vũ Thị Thu Hương, Đặng Thị Bích, Nguyễn Thị Vân Hà Copyright (c) 2026 https://truyennhiemvietnam.vn/index.php/vjid/article/view/521 Mon, 13 Apr 2026 00:00:00 +0000 ĐẶC ĐIỂM CÁC BIẾN CỐ BẤT LỢI VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ NGUY CƠ Ở BỆNH NHÂN NGƯỜI LỚN ĐƯỢC SỬ DỤNG LINEZOLID TẠI BỆNH VIỆN BỆNH NHIỆT ĐỚI TRUNG ƯƠNG (2021 - 2022) https://truyennhiemvietnam.vn/index.php/vjid/article/view/522 Mục tiêu:Mô tả các biến cố bất lợi của bệnh nhân người lớn sử dụng linezolid tại Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương. Phân tích một số yếu tố nguy cơ giảm tiểu cầu liên quan đến linezolid ở bệnh nhân người lớn tại Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương.Đối tượng và phương pháp:Nghiên cứu mô tả, hồi cứu các bệnh nhân điều trị nội trú có sử dụng kháng sinh linezolid trong 2 giai đoạn tháng 7 - 12/2021 và tháng 4 - 9/2022.Kết quả: 281 bệnh nhân được đưa vào nghiên cứu. Tỷ lệ bệnh nhân gặp phản ứng có hại liên quan đến linezolid bao gồm: Giảm tiểu cầu 30,9%; giảm hemoglobin 11,4%; nhiễm toan lactic 10,5%; giảm bạch cầu 6% và giảm bạch cầu trung tính 4,6%. Tuổi, số lượng tiểu cầu ban đầu, sốc nhiễm khuẩn là các yếu tố nguy cơ ảnh hưởng đến biến cố giảm tiểu cầu liên quan đến linezolid.Kết luận: Giảm tiểu cầu là tác dụng bất lợi thường gặp ở bệnh nhân dùng linezolid. Các yếu tố làm tăng nguy cơ giảm tiểu cầu bao gồm: Bệnh nhân cao tuổi, số lượng tiểu cầu ban đầu dưới khoảng giá trị bình thường, sốc nhiễm khuẩn. Khuất Thị Oanh, Đinh Thị Thanh Thủy, Nguyễn Thị Thu Hương, Lê Thị Đỗ Quyên, Vương Lan Hương, Vũ Đình Hòa, Nguyễn Hà Nhi Copyright (c) 2026 https://truyennhiemvietnam.vn/index.php/vjid/article/view/522 Mon, 13 Apr 2026 00:00:00 +0000 MỐI LIÊN QUAN GIỮA MỘT SỐ CĂN NGUYÊN THƯỜNG GẶP VÀ ĐẶC ĐIỂM HÌNH ẢNH CỘNG HƯỞNG TỪ SỌ NÃO Ở BỆNH NHÂN VIÊM NÃO DO VI RÚT https://truyennhiemvietnam.vn/index.php/vjid/article/view/523 Mục tiêu: Mô tả các căn nguyên thường gặp trên bệnh nhân viêm não vi rút; (2) Phân tích mối liên quan giữa các căn nguyên trên với một số đặc điểm hình ảnh cộng hưởng từ sọ não.Đối tượng và phương pháp:Mô tả cắt ngang 107 trường hợp viêm não vi rút được chẩn đoán xác định và điều trị tại Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương, Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 và Bệnh viện Đại học Y Hà Nội từ tháng 01/2020 đến tháng 12/2024.Kết quả:Trong 107 bệnh nhân nghiên cứu, các căn nguyên vi rút thường gặp nhất là HSV (Herpes Simplex Virus) chiếm tỷ lệ: 46,7%, JEV (Japanese Encephalitis Virus): 21,5%, EBV (Epstein Bar Virus): 14,0% và VZV (Varicella Zoster Virus): 13,1%. Căn nguyên CMV (Cytomegalo Virus) và HHV (Virus human herpes) chiếm 3 - 4%, căn nguyên DENV và B19 hiếm gặp (0,9%). Viêm não do JEV gây bệnh theo mùa rõ rệt với số lượng bệnh nhân cao nhất vào tháng 6, tháng 7 hàng năm. Bệnh nhân viêm não do HSV tăng đáng kể trong tháng 10, tháng 11; căn nguyên EBV hay gặp trong tháng 8 và tháng 9. Viêm não do EBV ít gặp tổn thương ở thùy đảo; các tổn thương nhu mô ghi nhận được ít gặp hạn chế khuếch tán (HCKT) hơn. Bệnh nhân viêm não do HSV thường có nhiều tổn thương trên CHT hơn các căn nguyên còn lại, vị trí tổn thương hay gặp là thùy trán, thùy thái dương, ít gặp tổn thương ở thùy đảo và gian não. Tổn thương não do JEV hay gặp ở nhân nền, gian não, ít gặp ở thùy trán, thùy đảo. Bệnh nhân viêm não do VZV thường ít có tổn thương trên CHT và ít gặp ở thùy thái dương hơn các căn nguyên khác.Kết luận: Các căn nguyên viêm não vi rút thường gặp lần lượt là HSV, JEV, VZV, EBV. Chúng đều có liên quan đến vị trí tổn thương và số lượng tổn thương nhu mô phát hiện được trên phim. Cần có các nghiên cứu với cỡ mẫu lớn hơn để xác nhận những mối liên quan này và phát hiện thêm các yếu tố khác. Nguyễn Việt Hằng, Lê Duy Dũng, Nguyễn Tuấn Anh, Đoàn Tiến Lưu Copyright (c) 2026 https://truyennhiemvietnam.vn/index.php/vjid/article/view/523 Mon, 13 Apr 2026 00:00:00 +0000 TỶ LỆ TÁI PHÁT VI RÚT SAU THỜI GIAN NGỪNG THUỐC ĐIỀU TRỊ KHÁNG VI RÚT Ở BỆNH NHÂN VIÊM GAN VI RÚT B MẠN TÍNH https://truyennhiemvietnam.vn/index.php/vjid/article/view/524 Mục tiêu: Mô tả tỷ lệ tái phát vi rút sau thời gian ngừng thuốc điều trị kháng vi rút ở 33 bệnh nhân viêm gan vi rút B mạn tính tại Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương.Đối tượng và phương pháp:Nghiên cứu mô tả cắt ngang 33 bệnh nhân viêm gan vi rút B mạn tính được thực hiện từ tháng 9/2022 đến tháng 12/2025 tại Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương.Kết quả: Chúng tôi tuyển chọn được 298 bệnh nhân đủ tiêu chuẩn đưa vào nghiên cứu. Trong quá trình theo dõi có 33 bệnh nhân được ngừng thuốc theo tiêu chuẩn. Kết quả có 14 trường hợp tái phát vi rút chiếm 42,42 % trong tổng số bệnh nhân ngừng thuốc. Các trường hợp đa số xảy ra trong 3 tháng đầu tiên với 10 ca trong tổng số 14 ca tái phát vi rút. Có 3 trường hợp xuất hiện tái phát lâm sàng trong 3 tháng đầu sau ngừng thuốc chiếm tỷ lệ 9,09% và 1 trường hợp tháng thứ 6 sau ngừng thuốc chiếm tỷ lệ 3,03%. Nhóm bệnh nhân ngừng thuốc theo chỉ định có chuyển đảo huyết thanh HBeAg có tỷ lệ cao hơn (22/33 trường hợp) và tỷ lệ bệnh nhân tái phát cũng cao hơn so với nhóm bệnh nhân ngừng thuốc dựa vào mất HBsAg. Nồng độ HBcrAg tại thời điểm bắt đầu ngừng thuốc ở nhóm có tái phát vi rút/lâm sàng cao hơn so nhóm không có tái phát. Tuy nhiên, sự khác biệt chưa có ý nghĩa thống kê (p > 0,05).Kết luận: Nghiên cứu ghi nhận tỷ lệ tái phát vi rút chiếm tỷ lệ cao ở những bệnh nhân viêm gan vi rút B ngừng thuốc điều trị. Vũ Thị Thu Hương, Đặng Thị Bích, Nguyễn Thị Vân Hà, Vũ Thị Nhâm Copyright (c) 2026 https://truyennhiemvietnam.vn/index.php/vjid/article/view/524 Mon, 13 Apr 2026 00:00:00 +0000 ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG VÀ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ BỆNH VIÊM NÃO DO VI RÚT Ở BỆNH NHI TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA ĐỨC GIANG (2024 - 2025) https://truyennhiemvietnam.vn/index.php/vjid/article/view/525 Mục tiêu: Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, căn nguyên gây bệnh và kết quả điều trị trẻ mắc viêm não do vi rút điều trị tại Bệnh viện đa khoa Đức Giang giai đoạn 2024 - 2025.Đối tượng và phương pháp:Nghiên cứu mô tả loạt ca bệnh 88 bệnh nhi chẩn đoán viêm não theo tiêu chuẩn của Hiệp hội Viêm não Quốc tế 2013. Các dữ liệu lâm sàng, xét nghiệm dịch não tủy, kết quả PCR, tình trạng điều trị và đáp ứng điều trị được thu thập và phân tích bằng phần mềm SPSS 22.0.Kết quả: Tuổi trung bình 6,43 ± 3,09 năm; trẻ nam chiếm 65,9%. Bệnh xuất hiện quanh năm nhưng tăng mạnh từ tháng 9 đến tháng 12, đỉnh vào tháng 10. Triệu chứng thường gặp gồm đau đầu (97,7%), sốt (95,5%), nôn (93,2%) và cứng gáy (96,6%). Dịch não tủy cho thấy tăng tế bào lympho với trung vị 145 tế bào/mL; protein và glucose nằm trong giới hạn bình thường. Enterovirus là căn nguyên phổ biến nhất (77,3%). Tỷ lệ khỏi hoàn toàn khi ra viện đạt 100%, thời gian điều trị trung vị 6 ngày; 78,4% trẻ được sử dụng dexamethason.Kết luận:Viêm não do vi rút ở trẻ em điều trị tại Bệnh viện đa khoa Đức Giang chủ yếu gặp ở nhóm tuổi > 5. Bệnh tăng nhiều vào các tháng cuối năm. Biểu hiện lâm sàng và dịch não tủy mang đặc trưng của bệnh căn vi rút. Trong đó, Enterovirus chiếm tỷ lệ cao nhất. Tỷ lệ bệnh nhi hồi phục hoàn toàn 100% với thời gian điều trị ngắn cho thấy hiệu quả của việc chẩn đoán và xử trí hiện nay. Những kết quả này hỗ trợ tối ưu hoá nhận diện sớm và định hướng quản lý bệnh trong thực hành nhi khoa. Hoàng Văn Kết, Lê Mạnh Trường, Nông Thanh Tuyến, Lê Thị Thu Hiền, Nguyễn Thị Lan Anh, Nguyễn Quang Cường, Nguyễn Thị Mai, Ngô Xuân Thoại, Đào Thị Phương Anh, Nguyễn Thị Thu Trang Copyright (c) 2026 https://truyennhiemvietnam.vn/index.php/vjid/article/view/525 Mon, 13 Apr 2026 00:00:00 +0000 KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ VIÊM MÔ BÀO NẶNG TẠI BỆNH VIỆN BỆNH NHIỆT ĐỚI TRUNG ƯƠNG https://truyennhiemvietnam.vn/index.php/vjid/article/view/527 Mục tiêu:Đánh giá kết quả điều trị viêm mô bào nặng tại Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương.Phương pháp: Chúng tôi tiến hành nghiên cứu 22 trường hợp được chẩn đoán viêm mô bào nặng được điều trị, ghi nhận các đặc điểm tổn thương, bệnh lý nền, kết quả nuôi cấy vi sinh, phương pháp phẫu thuật thực hiện, kháng sinh sử dụng, thời gian điều trị tại bệnh viện. Nghiên cứu mô tả loạt ca bệnh, hồi cứu kết hợp với tiến cứu.Kết quả: Độ tuổi trung bình là 50,6 trong đó nam giới chiếm 81,8%. Bệnh lý nền chủ yếu là đái tháo đường 52,9%, ngoài ra là các bệnh lý: Xơ gan, gút, lạm dụng corticoid, rượu. Tổn thương chủ yếu ở chi dưới 81,8%. Vi khuẩn hay gặp là Staphylococcus aerius và Aeromonas hydrophila. Kháng sinh phải phối hợp từ 2 - 3 kháng sinh (95,4%) và thời gian sử dụng kéo dài với số ngày điều trị trung bình là 47,45 ngày. Bệnh nhân trải qua > 2 lần phẫu thuật chiếm 36,4%. Kết quả khỏi bệnh là 91% với 1 trường hợp tử vong (4,5%).Kết luận:Điều trị viêm mô bào nặng cần đặt ra vấn đề phẫu thuật sớm nhất là những trường hợp có viêm cân hoại tử, hội chứng chèn ép khoang. Cần lấy bệnh phẩm nuôi cấy ở tất cả các lần phẫu thuật. Phối hợp kháng sinh phổ rộng với liều lượng và cách dùng kháng sinh chuẩn để đạt hiệu quả. Hoàng Mạnh Hà, Vũ Giang Anh, Phạm Văn Tỉnh, Ngô Thị Mai Khanh Copyright (c) 2026 https://truyennhiemvietnam.vn/index.php/vjid/article/view/527 Mon, 13 Apr 2026 00:00:00 +0000 HIỆU QUẢ DỰ PHÒNG TÁI HOẠT VI RÚT VIÊM GAN B Ở BỆNH NHÂN UNG THƯ VÚ GIAI ĐOẠN SỚM CÓ ĐIỀU TRỊ HÓA CHẤT https://truyennhiemvietnam.vn/index.php/vjid/article/view/528 Mục tiêu:Đánh giá đặc điểm lâm sàng và hiệu quả dự phòng kháng vi rút trong việc phòng ngừa tái hoạt động vi rút viêm gan B (HBV) ở bệnh nhân ung thư vú giai đoạn sớm có điều trị hóa chất.Đối tượng và phương pháp:Nghiên cứu mô tả cắt ngang hồi cứu được thực hiện dựa trên hồ sơ bệnh án của 56 bệnh nhân ung thư vú giai đoạn sớm có nhiễm vi rút viêm gan B. Tất cả bệnh nhân đều được điều trị hóa chất trong năm 2024 tại Bệnh viện K. Các đặc điểm bệnh nhân, tỷ lệ tái hoạt động HBV (rHBV) và các yếu tố nguy cơ tiềm tàng liên quan đến HBV được phân tích.Kết quả:Tuổi trung bình của bệnh nhân là 50 tuổi (dao động từ 34 - 70). Tất cả bệnh nhân đều được dự phòng kháng vi rút, bao gồm entecavir (96,4%) hoặc tenofovir (3,6%). Thời gian dự phòng kháng vi rút trung bình trước khi bắt đầu hóa trị là 9,5 ± 7,4 ngày. Tái hoạt động HBV chỉ xảy ra ở 5,4% trường hợp. Không ghi nhận mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa các yếu tố nguy cơ được đánh giá và tình trạng tái hoạt động HBV.Kết luận:Hóa trị ở bệnh nhân viêm gan B mạn tính vẫn là một thách thức lớn trong thực hành lâm sàng, đặc biệt ở bệnh nhân ung thư vú sử dụng phác đồ có anthracyclin. Dự phòng kháng vi rút là một chiến lược rất hiệu quả giúp giảm nguy cơ tái hoạt động HBV và cho phép hoàn thành đầy đủ phác đồ hóa trị theo kế hoạch. Nguyễn Thị Lý Linh, Ngô Thị Mai Khanh, Lê Thanh Đức, Nguyễn Mạnh Tuấn Copyright (c) 2026 https://truyennhiemvietnam.vn/index.php/vjid/article/view/528 Mon, 13 Apr 2026 00:00:00 +0000 ĐÁNH GIÁ BƯỚC ĐẦU KẾT QUẢ PHẪU THUẬT ÁP XE NÃO TẠI BỆNH VIỆN BỆNH NHIỆT ĐỚI TRUNG ƯƠNG https://truyennhiemvietnam.vn/index.php/vjid/article/view/529 Mục tiêu:Mô tả đặc điểm lâm sàng, hình ảnh học, phương pháp phẫu thuật và đánh giá kết quả điều trị bệnh nhân áp xe não tại Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương.Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu tiến cứu mô tả trên 24 bệnh nhân áp xe não có chỉ định phẫu thuật, điều trị tại Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương từ tháng 01/2025 đến tháng 7/2025. Thu thập dữ liệu lâm sàng, xét nghiệm, hình ảnh học, phương pháp can thiệp và theo dõi kết quả sau mổ.Kết quả:Nghiên cứu 24 bệnh nhân cho thấy: Bệnh nhân chủ yếu là nam giới, tuổi trung bình 41,6 ± 16,9. Tỷ lệ áp xe đa ổ 25%, liên quan tiền sử viêm màng não hoặc chấn thương sọ não. Phẫu thuật chủ yếu là dẫn lưu ổ áp xe (58%), kết hợp bóc khối và bơm rửa liên tục trong các trường hợp nặng, đa kháng. Tỷ lệ kết quả tốt (Rankin 0 - 2) đạt 54%, không ghi nhận tử vong; có 4 ca tái phát (16%), 1 ca co giật (4%). Kết luận: Phẫu thuật đóng vai trò quan trọng trong điều trị áp xe não, đặc biệt tại bệnh viện tuyến cuối với nhiều ca nặng, kháng thuốc. Phối hợp chặt chẽ giữa phẫu thuật và kiểm soát nhiễm trùng giúp cải thiện tiên lượng và nâng cao hiệu quả điều trị. Nguyễn Quang Thành, Mạc Duy Hưng, Lê Thị Phương Linh Copyright (c) 2026 https://truyennhiemvietnam.vn/index.php/vjid/article/view/529 Mon, 13 Apr 2026 00:00:00 +0000 U BẠCH MẠCH LÁCH Ở NGƯỜI TRƯỞNG THÀNH: THÔNG BÁO CA LÂM SÀNG HIẾM GẶP VÀ ĐIỂM LẠI Y VĂN https://truyennhiemvietnam.vn/index.php/vjid/article/view/530 U bạch mạch lách (Splenic Lymphangioma) là một dị dạng mạch bạch huyết bẩm sinh lành tính, đặc trưng bởi sự tăng sinh và giãn nở của các kênh bạch huyết, tạo thành các cấu trúc dạng nang. Bệnh hiếm gặp, chiếm tỷ lệ dưới 0,007% trong tất cả các khối u và thường được chẩn đoán ở trẻ em dưới hai tuổi [1]. Biểu hiện lâm sàng của bệnh rất đa dạng, từ hoàn toàn không có triệu chứng đến các dấu hiệu chèn ép cơ học hoặc các biến chứng cấp tính đe dọa tính mạng như vỡ lách. Cần chẩn đoán phân biệt với các bệnh lý khác nhau biểu hiện tổn thương dạng nang ở lách. Chúng tôi thông báo một trường hợp lâm sàng hiếm gặp về u bạch mạch lách kích thước lớn ở bệnh nhân nữ, 39 tuổi, nhập viện vì triệu chứng mệt mỏi không đặc hiệu. Bệnh nhân có tiền sử phát hiện khối u ở lách cách đây ba năm nhưng chưa can thiệp điều trị. Chụp cắt lớp vi tính (CT scan) ổ bụng có tiêm thuốc cản quang, đã xác định một khối giảm tỷ trọng lớn (không loại trừ tổn thương dạng nang), đa thùy, kích thước lớn nhất là 49 x 87 mm, chiếm gần toàn bộ nhu mô lách. Các xét nghiệm cận lâm sàng, bao gồm dấu ấn ung thư và huyết thanh chẩn đoán ký sinh trùng, đều trong giới hạn bình thường. Bệnh nhân đã được chỉ định và thực hiện thành công phẫu thuật nội soi cắt lách toàn bộ. Kết quả mô bệnh học, cho thấy hình ảnh điển hình của u bạch mạch lành tính. Diễn biến hậu phẫu của bệnh nhân ổn định và được xuất viện sau 8 ngày điều trị mà không có biến chứng nào xảy ra. Nguyễn Minh Trọng, Nguyễn Kiều Hưng, Vũ Xuân Ngọc, Nguyễn Trường Giang, Nguyễn Thanh Sơn, Nguyễn Văn Phúc, Dương Thị Hường, Lê Như Thanh Copyright (c) 2026 https://truyennhiemvietnam.vn/index.php/vjid/article/view/530 Mon, 13 Apr 2026 00:00:00 +0000 ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG NHIỄM NẤM HUYẾT TALAROMYCES MARNEFFEI Ở NGƯỜI BỆNH HIV/AIDS ĐIỀU TRỊ TẠI BỆNH VIỆN BỆNH NHIỆT ĐỚI TRUNG ƯƠNG 2023 - 2024 https://truyennhiemvietnam.vn/index.php/vjid/article/view/531 Mục tiêu: Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng nhiễm nấm huyết Talaromyces marneffei (T. marneffei)trên người bệnh HIV/AIDS.Đối tượng và phương pháp:Nghiên cứu mô tả trên 57 bệnh nhân HIV/AIDS được chẩn đoán xác định nhiễm nấm huyết T. marneffei điều trị tại Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương từ tháng 01/2023 đến tháng 4/2024.Kết quả:Bệnh gặp chủ yếu ở nam giới (70,2%), nhóm tuổi dưới 40 (73,7%). Các triệu chứng lâm sàng thường gặp: sốt (94,7%), mệt mỏi (84,2%), sụt cân (64,1%), hạch ngoại biên (54,4%), tổn thương da (52,6%). Các bất thường cận lâm sàng: Thiếu máu (57,9%), giảm tiểu cầu (64,9%), rối loạn đông máu, tăng men gan, bất thường siêu âm ổ bụng (gan to 50%, lách to 29,6%), tổn thương phổi trên X-quang/CLVT (70,9%). Số lượng CD4 trung bình thấp (97,7% có CD4 < 200 tế bào). Ngoài máu, nấm còn được phân lập từ da (36,8%), đờm (19,8%) và các bệnh phẩm khác.Kết luận: Nhiễm nấm huyết T. marneffei trên bệnh nhân HIV/AIDS thường được phát hiện muộn, kết quả điều trị bị hạn chế. Biểu hiện lâm sàng, cận lâm sàng đa dạng do đó việc tiếp cận dựa trên triệu chứng sớm để đưa ra chẩn đoán và điều trị kịp thời để giảm tỷ lệ tử vong cho bệnh nhân là rất cần thiết. Trần Duy Hưng, Hoàng Thùy Trang, Trần Thị Hiền Copyright (c) 2026 https://truyennhiemvietnam.vn/index.php/vjid/article/view/531 Mon, 13 Apr 2026 00:00:00 +0000 NHẬN XÉT KHẢ NĂNG PHÁT HIỆN TỔN THƯƠNG CỦA CHUỖI XUNG FLAIR VÀ T1W SAU TIÊM THUỐC TRÊN PHIM CỘNG HƯỞNG TỪ CỦA BỆNH NHÂN VIÊM MÀNG NÃO https://truyennhiemvietnam.vn/index.php/vjid/article/view/532 Mục tiêu:Nhận xét khả năng phát hiện tổn thương của chuỗi xung FLAIR (Fluid Attenuated Inversion Recovery) sau tiêm (CE-FLAIR) so với chuỗi xung T1W sau tiêm (CE-T1W) trên phim cộng hưởng từ.Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Mô tả chùm ca bệnh 105 bệnh nhân (BN) có biểu hiện viêm màng não được điều trị viêm màng não tại Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương từ tháng 12/2024 đến tháng 8/2025.Kết quả:Trong 105 bệnh nhân viêm màng não được đưa vào nghiên cứu. Khi so sánh hai chuỗi xung sau tiêm, CE-FLAIR phát hiện tổn thương màng não ở 78,1% bệnh nhân, cao hơn rõ rệt so với CE-T1W (54,3%), sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,001). CE-FLAIR cũng cho mức độ biểu hiện tổn thương (++/+++) rõ hơn và có độ nhạy cao hơn ở hầu hết các nhóm căn nguyên, đặc biệt là viêm màng não do vi khuẩn.Kết luận: Kết quả nghiên cứu cho thấy CE-FLAIR là chuỗi xung có giá trị cao nhất trong phát hiện tổn thương màng não, vượt trội hơn CE-T1W cả về tỷ lệ phát hiện và độ rõ nét của hình ảnh. Việc sử dụng CEFLAIR trong quy trình chụp chuẩn giúp nâng cao khả năng chẩn đoán sớm, hỗ trợ định hướng căn nguyên và đánh giá mức độ lan rộng của tổn thương, qua đó góp phần cải thiện chất lượng điều trị bệnh nhân viêm màng não. Nguyễn Tuấn Anh, Nguyễn Việt Hằng, Đào Thị Hồng Nhung, Lê Thị Thanh Thủy Copyright (c) 2026 https://truyennhiemvietnam.vn/index.php/vjid/article/view/532 Mon, 13 Apr 2026 00:00:00 +0000 MÔ TẢ HÌNH ẢNH TỔN THƯƠNG GAN TRÊN SIÊU ÂM TỔNG QUÁT BỆNH NHÂN SÁN LÁ GAN LỚN ĐIỀU TRỊ NỘI TRÚ TẠI BỆNH VIỆN BỆNH NHIỆT ĐỚI KHÁNH HÒA https://truyennhiemvietnam.vn/index.php/vjid/article/view/533 Mục tiêu:Mô tả tổn thương gan trên hình ảnh siêu âm tổng quát bệnh nhân sán lá gan lớn và mối liên quan giữa mức độ tổn thương với một số yếu tố khác.Đối tượng và phương pháp:Nghiên cứu hồi cứu 138 bệnh nhân sán lá gan lớn điều trị nội trú tại Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới tỉnh Khánh Hòa năm 2023. Thu thập số liệu từ bệnh án quản lý tại Phòng Kế hoạch tổng hợp Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới tỉnh Khánh Hòa điều tra viên tiến hành ghi đầy đủ các thông tin theo yêu cầu đã đề ra vào phiếu điều tra. Số liệu được nhập trên Epi-data và phân tích trên phần mềm SPSS.20.Kết quả và kết luận:Trong năm 2023, có 118 bệnh nhân sán lá gan lớn điều trị nội trú. Trung bình mỗi tháng có 10 bệnh nhân. 30,5% số bệnh nhân đang sống tại Thành phố Nha Trang. Tuổi trung bình là 46 tuổi. Nữ giới chiếm tỷ lệ 54,2%. 88,1% có tổn thương gan trên siêu âm. 71,9% ở gan phải, 11,1% ở gan trái, 5,1% ở cả gan phải và gan trái. 11,7% có đến 2 ổ áp xe gan và chiều rộng ổ áp xe dài nhất là 115 mm và ngán nhất là 13 mm. 92,1% bệnh nhân nữ có tổn thương gan, nam chiếm 83,1%. 57,1% bệnh nhi và 90,0% bệnh nhân người lớn có tổn thương gan. 100,0% bệnh nhân ở khu vực miền núi có tổn thương gan và bệnh nhân ở khu vực đồng bằng chiếm 87,8%. 46,5% bệnh nhân người lớn và 100% bệnh nhi có kích thước ổ áp xe từ 60 mm trở lên. Số ngày điều trị trung bình của bệnh nhân 10 ngày. Nguyễn Vũ Quốc Bình Copyright (c) 2026 https://truyennhiemvietnam.vn/index.php/vjid/article/view/533 Mon, 13 Apr 2026 00:00:00 +0000 ĐẶC ĐIỂM CẬN LÂM SÀNG Ở NGƯỜI BỆNH MẮC COVID-19 ĐỒNG NHIỄM HIV/AIDS ĐIỀU TRỊ TẠI BỆNH VIỆN BỆNH NHIỆT ĐỚI TRUNG ƯƠNG (2/2022 - 6/2024) https://truyennhiemvietnam.vn/index.php/vjid/article/view/534 Đồng nhiễm HIV/AIDS ở bệnh nhân COVID-19 có liên quan đến việc gia tăng nguy cơ sốt, khó thở, nhập viện vào đơn vị hồi sức tích cực (ICU) và tử vong. Việc theo dõi sớm các chỉ số cận lâm sàng có thể hỗ trợ tiên lượng và điều trị kịp thời, từ đó giúp giảm mức độ nặng và nguy cơ tử vong.Mục tiêu: Đánh giá một số đặc điểm cận lâm sàng (sinh hóa, huyết học, miễn dịch, đông máu) theo mức độ nặng ở người bệnh mắc COVID-19 đồng nhiễm HIV/AIDS điều trị tại Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương giai đoạn từ tháng 2/2022 đến tháng 6/2024.Phương pháp:Nghiên cứu mô tả cắt ngang được tiến hành từ tháng 2/2022 đến tháng 6/2024 tại Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương (NHTD). 113 người bệnh được chẩn đoán nhiễm SARS-CoV-2 đồng nhiễm HIV/AIDS đáp ứng tiêu chuẩn lựa chọn được đưa vào nghiên cứu. Các chỉ số cận lâm sàng bao gồm một số chỉ số huyết học, đông máu, sinh hóa và miễn dịch được mô tả và so sánh giữa các nhóm theo mức độ nặng của bệnh.Kết quả:Các bất thường thường gặp ở bệnh nhân HIV nhiễm COVID-19 bao gồm thiếu máu (87,6%), giảm bạch cầu (60,2%), giảm tiểu cầu (52,2%) và rối loạn đông máu: PT giảm (55,0%), APTT kéo dài (33,0%), bất thường fibrinogen (tăng > 4 g/L chiếm 45,0%, giảm < 2 g/L chiếm 20,2%) và D-Dimer tăng (93,8%). Hầu hết bệnh nhân có chỉ số viêm (CRP, PCT, Ferritin) và LDH tăng, giảm albumin (< 35 g/L) gặp ở 83,8% bệnh nhân không phân biệt mức độ nặng. Enzyme gan tăng được ghi nhận ở cả nhóm nhẹ/trung bình và nặng/nguy kịch, sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05). Nhóm nặng/nguy kịch có tỷ lệ bạch cầu tăng (57,1% so với 16,5%) và giảm tiểu cầu (67,9% so với 47,1%); tỷ lệ PT < 70%, APTT kéo dài, fibrinogen > 4 g/L, ure, creatinin và CRP tăng cao hơn nhóm nhẹ/trung bình, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,05). Số lượng tế bào T CD4 ở nhóm nặng/nguy kịch thấp hơn đáng kể so với nhóm nhẹ/trung bình (p = 0,043).Kết luận: Các bất thường cận lâm sàng, đặc biệt là các chỉ số huyết học, đông máu, sinh hóa và miễn dịch, thường gặp ở bệnh nhân HIV/AIDS nhiễm COVID-19 và có liên quan chặt chẽ với mức độ nặng của bệnh. Kết quả này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc theo dõi toàn diện các chỉ số cận lâm sàng để cải thiện tiên lượng và định hướng điều trị. Ngô Thị Mai Khanh, Quách Duy Cường, Trần Văn Giang Copyright (c) 2026 https://truyennhiemvietnam.vn/index.php/vjid/article/view/534 Mon, 13 Apr 2026 00:00:00 +0000 TÌNH TRẠNG DINH DƯỠNG VÀ NHU CẦU SỬ DỤNG CHẾ ĐỘ ĂN BỆNH LÝ CỦA NGƯỜI BỆNH ĐIỀU TRỊ NỘI TRÚ TẠI KHỐI NGOẠI BỆNH VIỆN BỆNH NHIỆT ĐỚI TRUNG ƯƠNG NĂM 2024 https://truyennhiemvietnam.vn/index.php/vjid/article/view/535 Dinh dưỡng lâm sàng giữ vai trò quan trọng trong chăm sóc và điều trị người bệnh ngoại khoa, song sàng lọc và can thiệp suy dinh dưỡng vẫn chưa được thực hiện đầy đủ tại nhiều cơ sở. Hệ thống suất ăn bệnh lý còn hạn chế về tính phù hợp và khả năng đáp ứng nhu cầu người bệnh.Mục tiêu: Đánh giá tình trạng dinh dưỡng và nhu cầu sử dụng chế độ ăn bệnh lý của người bệnh điều trị nội trú ở các khoa ngoại tại Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương năm 2024.Đối tượng và phương pháp:Nghiên cứu mô tả cắt ngang 184 người bệnh điều trị nội trú tại ba khoa ngoại của Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương năm 2024.Kết quả và kết luận: Nghiên cứu cho thấy: 15,2% bệnh nhân thiếu năng lượng trường diễn theo BMI (Body Mass Index). Phân loại SGA (Subjective Global Assessment) ghi nhận 59,8% suy dinh dưỡng, trong đó 41,3% mức độ nhẹ/vừa và 18,5% nặng. Nhu cầu sử dụng suất ăn bệnh lý dao động 66,2 - 78,9% giữa các khoa, nhưng 67,9% chỉ sử dụng khi có chỉ định của bác sĩ, trong khi 3,8% chủ động sử dụng. Về suất ăn bệnh lý, 44,0% ưu tiên hình thức và khẩu vị, còn giá cả và an toàn thực phẩm chiếm tỷ lệ thấp. Kết quả nhấn mạnh nhu cầu tăng cường phối hợp liên chuyên khoa nhằm tối ưu hóa chăm sóc dinh dưỡng và hỗ trợ điều trị. Nguyễn Đắc Danh, Nguyễn Thị Liên Hà, Nguyễn Ngọc Tuyền, Trần Thị Lệ Thu, Trần Thượng Việt Copyright (c) 2026 https://truyennhiemvietnam.vn/index.php/vjid/article/view/535 Mon, 13 Apr 2026 00:00:00 +0000 SỰ HÀI LÒNG CỦA NGƯỜI BỆNH ĐIỀU TRỊ NỘI TRÚ TẠI BỆNH VIỆN BỆNH NHIỆT ĐỚI TRUNG ƯƠNG NĂM 2025 https://truyennhiemvietnam.vn/index.php/vjid/article/view/536 Đặt vấn đề:Sự hài lòng của người bệnh là tài sản vô giá của cơ sở khám, chữa bệnh. Cơ sở khám, chữa bệnh không thể phát triển và tăng trưởng khi không có sự hài lòng của người bệnh. Do đó, để nâng cao chất lượng của bệnh viện, bệnh viên cần triển khai thực hiện nhiều hoạt động cụ thể và thiết thực hơn nữa để tăng cường xây dựng cơ sở vật chất và trang thiết bị; cải thiện tinh thần, thái độ phục vụ của cán bộ, viên chức bệnh viện, cũng như chất lượng phục vụ khám, chữa bệnh của các bệnh viện. Chính vì vậy mà chúng tôi tiến hành đề tài này với mục tiêu sau: Mục tiêu: Mô tả thực trạng sự hài lòng người bệnh điều trị nội trú tại Bệnh Viện bệnh nhiệt đới Trung ương năm 2025. Đối tượng và phương pháp:Nghiên cứu mô tả cắt ngang tiến hành khảo sát trên 351 người bệnh điều trị nội trú tại Bệnh viện dựa trên bảng hỏi có sẵn. Kết quả và kết luận:Tỷ lệ hài lòng chung là 77,5%; hài lòng về khả năng tiếp cận là 86,3%; sự minh bạch thông tin, thủ tục khám bệnh và điều trị là 86,3%; cơ sở vật chất và phương tiện phục vụ người bệnh là 75,5%; thái độ ứng xử, năng lực chuyên môn của nhân viên y tế là 87,2%; kết quả cung cấp dịch vụ là 89,5%. Khuyến nghị:Bệnh viện tiếp tục thường xuyên kiểm tra, giám sát, cải tiến quy trình kỹ thuật chăm sóc, nâng cao năng lực chuyên môn. Thường xuyên tập huấn, đào tạo bồi dưỡng kỹ năng giao tiếp, quy tắc ứng xử, đạo đức nghề nghiệp và kỹ năng mềm cho đội ngũ nhân viên y tế để hướng tới sự hài lòng của người bệnh. Nguyễn Thị Thu Hà, Trần Văn Huy, Nguyễn Đình Hưởng, Phạm Thị Hạnh, Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương Copyright (c) 2026 https://truyennhiemvietnam.vn/index.php/vjid/article/view/536 Mon, 13 Apr 2026 00:00:00 +0000 THỰC TRẠNG SỬ DỤNG CATHETER TIÊM TRUYỀN Ở NGƯỜI BỆNH ĐIỀU TRỊ TẠI TRUNG TÂM HỒI SỨC TÍCH CỰC BỆNH VIỆN BỆNH NHIỆT ĐỚI TRUNG ƯƠNG NĂM 2025 https://truyennhiemvietnam.vn/index.php/vjid/article/view/537 Mục tiêu: Mô tả thực trạng sử dụng và biến chứng của catheter tiêm truyền ở người bệnh điều trị tại Trung tâm Hồi sức tích cực Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương năm 2025.Đối tượng và phương pháp: Người bệnh có lưu catheter tĩnh mạch ngoại vi (PVC), và trung tâm (CVC). Nghiên cứu mô tả quan sát.Kết quả: Nghiên cứu đã khảo sát 360 người bệnh (NB), trong đó giới nam chiếm 69,2%, tuổi trung bình 57,0 (± 16,84). Tổng số catheter là 1352: 1090 PVC (80,6%), 262 CVC (19,4%). Tỷ lệ NB có duy trì thuốc noradrenalin, propofol 1%, glucose 10%, gluose 20% khoảng 30%. Trong đó số PVC trung bình/NB: 4,1 (± 3,3); số CVC trung bình/NB: 1,2(± 0,5). Tỷ lệ biến chứng chung là 31,7% (n = 429), tỷ lệ riêng PVC 32,8%(n= 358), CVC 27,1% (n = 71). Tỷ lệ mắc hai biến chứng của PVC và CVC lần lượt 2,2%; 11,3%. Không có catheter nào mắc ba biến chứng. Phân loại biến chứng của PVC: Viêm tĩnh mạch 10,4% (n = 113), thoát mạch 7,6% (n = 83), tuột 8,3% (n = 91), tắc 6,1%(n = 67), tụ máu 1,1% (n = 12). Phân bố viêm tĩnh mạch (TM): Độ 1 (n = 71; 6,5%), độ 2 (n = 38; 3,5%); độ 3 (n = 4; 0,4%). Phân bố thoát mạch: Độ 1 (n = 72; 6,5%), độ 2 (n = 12; 1,1%). Phân loại biến chứng CVC: Tắc (n = 33; 12,6%), Tuột (n = 2; 0,4%); Sưng đỏ tại chỗ (n = 44; 16,8%).Kết luận: Tần suất sử dụng PVC, và CVC là phổ biến, các loại thuốc dùng duy trì TM liên tục như vận mạch, an thần, nuôi dưỡng. Tỷ lệ catheter có biến chứng khoảng 30%, trong đó một số biến chứng của PVC chủ yếu là viêm TM, thoát mạch và tuột; biến chứng của CVC chủ yếu là có dấu hiệu viêm tại chỗ. Nguyễn Thị Thường, Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương, Đỗ Thị Thu Hằng, Nguyễn Thị Huế, Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương, Vũ Đình Phú Copyright (c) 2026 https://truyennhiemvietnam.vn/index.php/vjid/article/view/537 Mon, 13 Apr 2026 00:00:00 +0000