ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ HUYẾT THANH KHÁNG NỌC Ở BỆNH NHÂN BỊ RẮN HỔ MANG CẮN TẠI TRUNG TÂM CHỐNG ĐỘC BỆNH VIỆN BẠCH MAI

Đặng Văn Dương1,, Nguyễn Trung Nguyên2, Nguyễn Văn Phương1, Hà Trần Hưng3
1 Bệnh viện Bệnh nhiệt đới Trung ương
2 Bệnh viện Bạch Mai
3 Trường Đại học Y Hà Nội

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Mục tiêu: Nhận xét kết quả điều trị huyết thanh kháng nọc rắn (HTKNR) ở bệnh nhân bị rắn hổ mang cắn tại Trung tâm Chống độc Bệnh viện Bạch Mai.
Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả tiến cứu 117 bệnh nhân bị rắn hổ mang (Naja spp) cắn được điều trị tại Trung tâm Chống độc Bệnh viện Bạch Mai từ tháng 7/2023 đến tháng 6/2024. Thu thập các thông tin về đặc điểm lâm sàng, phương pháp điều trị và kết quả điều trị bằng HTKNR.
Kết quả: Trong tổng số 117 bệnh nhân, 94 bệnh nhân (80,3%) được chỉ định dùng HTKNR. Liều HTKNR trung vị là 40 lọ (khoảng tứ phân vị 25 - 50 lọ), thời gian truyền trung vị là 5,0 giờ (khoảng tứ phân vị 3,5 - 7,8 giờ). Phần lớn bệnh nhân (66,7%) được dùng HTKNR trong vòng 6 giờ đầu sau khi bị cắn. Điểm đau giảm dần theo thời gian sau khi dùng HTKNR, từ 7,1 ± 1,1 điểm trước điều trị xuống còn 2,5 ± 1,4 điểm sau khi kết thúc điều trị. Kết quả điều trị: 100% bệnh nhân thoát khỏi tình trạng nguy hiểm, không có trường hợp nào tử vong; 9,6% ra viện, 60,6% chuyển tuyến cơ sở, 29,8% chuyển tuyến chuyên khoa.
Kết luận: Điều trị bệnh nhân bị rắn hổ mang cắn bằng HTKNR mang lại hiệu quả cao trong việc cải thiện các triệu chứng lâm sàng và giảm thiểu biến chứng nặng. Tỷ lệ tác dụng không mong muốn ở mức chấp nhận được và đa số có thể kiểm soát được bằng các biện pháp điều trị thích hợp.

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

1. World Health Organization (WHO). 2019. Snakebite envenoming: a strategy for prevention and control. Geneva: World Health Organization; 2019.
2. Vũ Văn Đính, Nguyễn Kim Sơn. 1988. Tài liệu tóm tắt Hội nghị về rắn độc và điều trị bệnh nhân rắn
độc. 1998.
3. Nguyễn Kim Sơn. 2008. Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và điều trị bệnh nhân bị một số rắn độc trên cạn cắn thuộc họ rắn hổ (Elapidae) ở miền Bắc Việt Nam. Luận án Tiến sĩ Y học. Đại học Y Hà Hội; 2008.
4. Nguyễn Trung Nguyên. 2019. Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, nồng độ nọc độc trong máu và giá trị của xét nghiệm nhanh trong chẩn đoán và điều trị bệnh nhân bị rắn hổ mang cắn. Luận án Tiến sĩ Y học. Bệnh viện Trung ương Quân đội 108; 2019.
5. WHO. 2016. Guidelines for the management of snakebites, 2nd edition. 2016.
6. WHO. 2023. Guidelines for the production, control and regulation of snake antivenom immunoglobulins, Annex 5, TRS No 1004. 2023.
7. Kularatne SA, Budagoda BD, Gawarammana IB et al. 2009. Epidemiology, clinical profile and management issues of cobra (Naja naja) bites in Sri Lanka: first authenticated case series. Transactions of the Royal Society of Tropical Medicine and Hygiene. 2009;103(9):924-30.
8. Williams D, Gutiérrez JM, Harrison R, et al. 2010. The Global Snake Bite Initiative: an antidote for
snake bite. Lancet. 2010;375(9708):89-91.
9. Wang W, Chen QF, Yin RX, et al. Clinical features and treatment experience: a review of 292 Chinese
cobra snakebites. Environmental toxicology and pharmacology. 2014;37(2):648-655.
10. Lin JH, Sung WC, Mu HW, Hung DZ. 2022. Local Cytotoxic Effects in Cobra Envenoming: A Pilot
Study. Toxins. 2022;14(2):122.
11. Faiz MA, Ahsan MF, Ghose A, et al. 2017. Bites by the Monocled Cobra, Naja kaouthia, in Chittagong Division, Bangladesh: Epidemiology, Clinical Features of Envenoming and Management